Đề bài: Cảm nhận về các ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài Thương vợ

– Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương và bài thơ Thương vợ: Tác giả với đạo Nho. Thương vợ là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện tình yêu thương vợ của Trần Tế Xương

– Ngoài giá trị nội dung tương đối nổi bật, bài thơ còn thành công nhờ vận dụng thành công ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ.

1. Dấu hiệu ca dao, thành ngữ, tục ngữ trong bài thơ

– Sự vận dụng thành ngữ, ca dao, tục ngữ được thể hiện qua hai cặp câu thực và luận trong bài:

+ “ Nuốt xác cò nơi vắng

Vắt mặt nước đông thuyền”

+ “Một duyên, hai nợ, phận”

Năm nắng mười mưa cũng dám quản công.”

⇒ Đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu này có vai trò to lớn trong việc thể hiện tình cảm thương vợ của Trần Tế Xương

2. Vai trò, tác dụng của việc vận dụng thành công ca dao, tục ngữ, thành ngữ

– Hai câu thực:

+ “Con cò lặn lội bến vắng”: Lấy cảm hứng từ câu ca dao: “Con cò lặn lội bờ sông”

+ “Bơi lội”: Lười nhác, cực nhọc, nhọc nhằn, lo lắng, vận dụng sáng tạo, lặn lên đầu nhấn mạnh gian khổ

+ Hình ảnh “thân cò”: gợi sự vất vả, lẻ loi khi làm ăn ⇒ khắc họa nỗi đau thân phận, khái quát: ca dao vận dụng sáng tạo, sử dụng thân cò càng làm tăng thêm nỗi vất vả của con người. bà Tú

+ “trong vắng”: thời gian, không gian rợn ngợp, đầy lo âu, hiểm nguy

⇒ Nỗi vất vả của bà Tú càng được nhấn mạnh qua việc vận dụng sáng tạo các câu ca dao

+ Eo ôi… thuyền đông: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, đánh nhau tiềm ẩn những bất trắc

+ Phiên đò đông đúc: Gợi nhớ câu ca dao: “Con ơi nhớ lấy câu này- Không lội đò đông, đò đầy chớ qua đò đầy”: Sự chen lấn, xô đẩy nơi đông người cũng đầy nguy hiểm. , lo lắng

– Hai bài luận:

+ “Một duyên hai nợ”: ý thức rằng lấy nhau là duyên nên “tiếc hùi hụi” không oán trách.

+ nắng mưa”: chỉ sự vất vả

+ “năm”, “mười”: số nhiều của tính từ

⇒ “Năm nắng mười mưa”: thành ngữ chéo gợi lên phẩm chất cần cù của Bá Tu

+ “Dám quản công”: Sự hy sinh cao cả, thầm lặng cho chồng con, ở bà hội tụ đức tính cần cù, dũng cảm, nhẫn nại.

⇒ Đoạn thơ sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, sử dụng từ tầm thường vừa thể hiện được sự vất vả, gian khổ vừa là đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà.

⇒ Nhận xét: Âm điệu ca dao, thành ngữ đã được Tế Xương vận dụng sáng tạo để nói lên nỗi lo toan, vất vả trong công việc hàng ngày của bà Tú, đồng thời tô đậm vẻ đẹp của bà. thể hiện tình yêu thương vợ sâu sắc của ông Tú

– Khẳng định lại vai trò của việc vận dụng thành công ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong việc thể hiện thành công nội dung tác phẩm.

Xem thêm bài viết hay:  Top 2 bài Phân tích, so sánh hình tượng đất nước trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi hay nhất

– Liên hệ nêu cảm nghĩ của cá nhân về đặc sắc nghệ thuật này

Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông mang đậm âm hưởng dân gian, đặc biệt thể hiện ở ngôn ngữ sử dụng trong thơ. Bài thơ Thương vợ là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất chất dân gian trong tác phẩm.

Trước hết, về ngôn ngữ, bài thơ được viết bằng chữ Nôm, từ ngữ sử dụng trong bài rất giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Bài thơ không sử dụng bất kỳ truyền thuyết hay sự kiện lịch sử nào mà hoàn toàn là ngôn ngữ của nhân dân. Ca từ giản dị, gần gũi với lối nói truyền miệng, đây có thể coi là những lời tâm sự hết sức chân thành mà giản dị của anh dành cho người vợ thân yêu của mình. Một mình bà Tú vất vả, làm lụng vất vả để nuôi sống cả nhà, không gian lao động chật chội “mom sông”, “trống vắng”, “ngày đông”, tất cả những vất vả, nhọc nhằn đó Tú Xương đều vô cùng trân trọng, nâng niu. Dù không giúp được gì cho bà Tú nhưng có lẽ ánh mắt yêu thương và biết ơn của ông luôn dõi theo từng bước đi của bà. Không những thế, ngôn ngữ cũng rất dung dị, đậm chất khẩu ngữ: “Cha mẹ có thói đời” những tiếng chửi trong thơ Tú Xương rất tự nhiên, giàu tính khẩu ngữ, góp phần tô đậm chất dân gian của tác phẩm. .

Trong tác phẩm, Tú Xương đã nắm vững thành ngữ, tục ngữ, làm cho câu ca dao đậm chất dân gian:

Một duyên hai duyên

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Lấy Tú Xương đối với bà Tú vừa là duyên vừa là nợ. Ở đây tác giả đã sử dụng vô cùng tài tình và linh hoạt các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”. Duyên ở đây thì ít (một duyên) mà nợ ở đây thì nhiều (hai nợ), nhưng đã là duyên thì bà Tú đành chấp nhận, không kêu ca, không oán trách “cháu ơi”. . Câu này làm ta nhớ đến câu ca dao xưa của ông cha ta:

“Một duyên, hai nợ, ba tình”

Ngẫm bên anh canh năm canh”

Hay: “Chồng nào, vợ nào?

Chẳng qua là nợ đời mà thôi.”

Tú Xương đã vận dụng rất sáng tạo những câu nói, câu nói dân gian để khẳng định, ca ngợi sự hi sinh thầm lặng, nhẫn nhịn của bà Tú với chính mình trong mối lương duyên này. Hơn ai hết, bà Tú là người ý thức rõ nhất rằng lấy ông Tú là số mệnh, định mệnh cố hữu của mình nên dù “những ngày mưa gió” vất vả, bà phải lội đồng hoang, tranh cướp ở đâu. bóng tối. Kể cả ngày đông khách, cô nàng cũng không “dám quản công”. Cô không kêu ca hay phàn nàn mà thực hiện đó như nghĩa vụ của mình. Đây là vẻ đẹp phẩm chất vốn có, nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Câu thơ cũng thể hiện tình yêu thương vợ của Tú Xương, ông thấu hiểu hết những nỗi khổ mà bà Tú phải chịu đựng. Từ tình thương, ông Tú cũng biết ơn và trân trọng sự hi sinh thầm lặng của bà Tú cho gia đình.

Xem thêm bài viết hay:  2 bài văn mẫu Phân tích 12 câu đầu đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du hay nhất – Ngữ văn lớp 10

Không chỉ vậy, hình ảnh trong bài thơ còn mang đậm tính dân gian, thể hiện rõ nhất qua hình ảnh con cò. Con cò là hình ảnh quen thuộc trong ca dao, dân ca, nó gợi lên nỗi khắc khoải, nhọc nhằn của người nông dân giữa cuộc đời đầy sóng gió:

“Con cò đi ăn đêm

Đậu cành mềm, lộn cổ xuống ao…”

Hay: “Con cò lặn lội bờ sông

Mang gạo nuôi chồng có tiếng khó nghe”

Và bà Tú cũng là một trong số những con cò làm việc cật lực đó: “Lặn mất tăm hơi”. Nghề buôn gạo của bà Tú nơi mẹ sông Vị Hoàng với biết bao hiểm nguy có thể gặp phải, đó là những ngày đi sớm về khuya một mình “đồng vắng” là những ngày chợ đông bon chen. chen, tranh. cướp giật, tranh giành nhau “con thuyền đông người” đầy bất trắc, nguy hiểm. Chỉ với một từ “thân cò” nhưng Tú Xương đã khái quát khá đầy đủ cuộc đời vất vả, gian khổ của bà Tú, không những thế còn cho người đọc thấy thêm những đức tính cao quý của bà: dũng cảm, tháo vát, cần mẫn nuôi chồng nuôi con. . Cô ấy là một phụ nữ Việt Nam điển hình.

Giọng điệu của bài thơ có sự kết hợp hài hoà giữa giọng trữ tình và giọng tự sự, trong đó giọng trữ tình là chủ đạo. Giúp bộc lộ những cảm xúc của tác giả: lòng biết ơn đối với người vợ chịu thương, chịu khó, chịu khó, nhọc nhằn; là bài thơ tự ti về bản thân, trở thành gánh nợ cho gia đình. Đằng sau đó, Tú Xương bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bà Tú.

Với việc sử dụng linh hoạt, tài tình các chất liệu dân gian từ ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu… Tú Xương đã làm nổi bật lên nỗi vất vả cũng như vẻ đẹp, phẩm chất của bà Tú. Bên cạnh đó, bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến vợ Táo Khang. Đồng thời cũng khẳng định tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tú Xương.

Một trong những đặc điểm lớn của thơ ca trung đại Việt Nam là sự kế thừa tinh hoa của văn học dân gian. Biết bao nhà thơ trung đại đã chịu ảnh hưởng đó trong sáng tác của mình để thơ họ mang đậm tính dân tộc. “Thương vợ” của Tú Xương cũng là một bài thơ có ngôn ngữ, âm điệu dân gian, thành ngữ, tục ngữ được vận dụng sáng tạo tạo nên màu sắc riêng của tác giả.

Bài thơ “Thương vợ” là tình cảm chân thành của nhà thơ dành cho bà Tú, đã thay mặt bà nói lên tâm tư sâu sắc của mình. Chân dung bà Tú hiện lên là một người vợ chịu thương chịu khó, tận tụy, chịu thương chịu khó, yêu thương, hy sinh cho chồng con. Bài thơ đã thành công về cách sử dụng từ ngữ, ngôn ngữ và âm hưởng nhạc điệu dân ca.

Xem thêm bài viết hay:  Top 2 bài phân tích tác phẩm Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh hay nhất – Ngữ văn lớp 11

Ngôn ngữ được viết bằng chữ Nôm, một sản phẩm do người Việt sáng tạo ra để thể hiện tinh thần dân tộc. Ngôn từ trong bài thơ rất đỗi bình dị, gần gũi với cuộc sống đời thường của người dân như hai chữ “Mẹ sông” diễn tả không gian bà Tú lao động nguy hiểm nơi đầu gió để kiếm sống. một chồng” hay những từ “đắm đuối”, “eo sèo”, “thơ ơ” thể hiện sự vất vả của người vợ mà người chồng lại hờ hững, thờ ơ. hiểu, cảm và diễn đạt, trong đó có câu chửi nhẹ nhàng, sâu lắng “Cha mẹ thói đời bạc tình”.rất đời thường, thấm đẫm chất hiện thực sinh động.

Đoạn thơ được vận dụng rất sáng tạo thành ngữ, tục ngữ không phải là trích nguyên văn mà cải biên nhưng vẫn giữ nguyên nội dung của câu nói như “Nắng mưa” được ông vận dụng sáng tạo để trở thành “Năm nắng mười tuổi”. mưa” cho thấy sự vất vả của bà Tú được nhân lên gấp nhiều lần.

Đặc biệt, câu ca dao có ảnh hưởng sâu sắc với hình tượng sáng tạo “Thân cò lặn lội ngoài xa”. Xưa ta thấy hình ảnh con cò tượng trưng cho nỗi vất vả của người nông dân, đặc biệt nói về thân phận người phụ nữ:

“Con cò lặn lội bờ sông

Cõng cơm cho chồng khóc khe khẽ”

Hoặc:

“Con cò đi ăn đêm

Đậu cành mềm, lộn cổ xuống ao”

Hình ảnh ấy gắn liền với thân phận người phụ nữ Việt Nam sớm hôm cần cù chăm lo cho gia đình. Bà Tú ở đây là thân cò một thân một số phận cụ thể gợi lên một sự mong manh, bé nhỏ trước cuộc đời. Tác giả sử dụng đảo ngữ cụm từ “nuốt chửng con cò” để làm cho hình ảnh ấy thêm ấn tượng.

Nhà thơ đã vận dụng một cách sáng tạo những quan niệm về duyên, nợ, phận trong dân gian vào câu thơ “Một duyên hai nợ một phận” để nói về mối nhân duyên vợ chồng. từ kiếp trước. Bà Tú chịu thương chịu khó vì ông Tú mà không một lời than trách, bà cho rằng đó là do số phận ông trời đã định. Cô chấp nhận điều đó mà không phàn nàn, dù ân thì ít mà nợ thì nhiều. Vì con đường công danh của ông trắc trở nên suốt đời ông có ba việc chính là học hành, thi cử, làm thơ, còn lại mọi công việc gia đình đều do bà Tú gánh vác, gánh vác.

Dưới ngòi thơ tài tình của Tú Xương, hình ảnh bà Tú hiện lên chân thực, giản dị, vẻ đẹp phẩm chất của bà là vẻ đẹp của biết bao người phụ nữ Việt Nam đảm đang, hi sinh cả đời cho chồng con, hạnh phúc. gia đình. Đoạn thơ đã thành công với sự vận dụng sáng tạo ngôn ngữ, ca dao, thành ngữ, tục ngữ tạo nên nét riêng của Tú Xương.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

viet-bai-lam-van-so-2.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *