Bài văn Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió gồm dàn ý phân tích chi tiết, sơ đồ tư duy và 6 bài văn phân tích mẫu hay nhất, ngắn gọn được tổng hợp và chọn lọc từ những bài văn hay đạt điểm cao của học sinh lớp 8. Hi vọng với
6 bài cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió này các bạn sẽ yêu thích và viết văn hay hơn.

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét – Cô Lê Minh Nguyệt (Giáo viên )

Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió”.

Mục lục

  • Dàn ý Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió
  • Sơ đồ Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 1
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 2
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 3
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 4
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 5
  • Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 6

Dàn ý Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió

I. Mở bài

– Giới thiệu đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” và tác giả.

– Nêu cảm nhận của bản thân về tác phẩm.

II. Thân bài

– Khái quát đoạn trích:

+ Đôn Ki-hô-tê nhìn thấy những chiếc cối xay gió nhưng lại tưởng đó là những tên khổng lồ liền xông đến giao chiến.

+ Giám mã Xan-chô Pan-xa hết lòng ngăn cản nhưng Đôn Ki-hô-tê cứ lao thẳng đến để đánh nhau với những chiếc cối xay gió.

+ Kết quả là cả người và ngựa của Đôn Ki-hô-tê bị văng ra xa.

– Nhân vật Đôn Ki-hô-tê:

+ Xuất thân trong một gia đình quý tộc.

+ Ngoại hình: Cao, gầy

+ Thích đọc truyện kiếm hiệp, tự coi mình là một hiệp sĩ và tự tìm cho mình một người tình nương để tôn thờ.

+ Khi đánh nhau với cối xay gió: Có những hành động lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, thúc ngựa phi thẳng tới chỗ cối xay gió để diệt trừ những tên khổng lồ xấu xa.

+ Kết thúc cuộc chiến, Đôn Ki-hô-tê bị thương nhưng cũng không rên la, không cảm thấy đau đớn. Không những thế hắn ta còn không thiết tha chuyện ăn uống vì nghĩ đến tình nương cũng đủ no rồi.

→ Là người có lí tưởng lớn lao nhưng lại mê muội, không ý thức được hành động của mình.

– Nhân vật Xan-chô Pan-xa:

+ Xuất thân: Nông dân, đi theo làm giám mã cho Đôn Ki-hô-tê.

+ Ngoại hình: Lùn, béo

+ Thích ăn uống và chè chén, thích ngủ → Coi trọng bản bản thân

+ Đủ tỉnh táo để nhận ra những gì trông thấy là cối xay gió chứ không phải là những tên khổng lồ như Đôn Ki-hô-tê.

→ Là người hèn nhát, sống thực tế, thực dụng nhưng luôn tỉnh táo.

– Nghệ thuật: 

+ Sử dụng phép tương phản đối lập trong cách xây dựng nhân vật.

+ Có giọng điệu hài hước, phê phán.

3. Kết bài

– Cảm nghĩ về đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió”.

Sơ đồ Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 1

Sáng tác trong khoảng 10 năm (1605 – 1615), cũng là thời kì nghèo túng vì khốn khổ nhất của cuộc đời Xéc-van-tét nhưng Đôn Ki-hô-tê trở thành cuốn tiều thuyết vĩ đại nhất của văn học Ánh sáng ở phương Tây thời Phục hưng. Đây là một tác phẩm sáng ngời chủ nghĩa nhân văn còn Xéc-văn-tét xứng đáng đứng ở vị trí cao nhất của văn học thời đại mới ở Tây Ban Nha. Đọc tác phẩm, ta bị cuốn hút bởi nhân vật chính của truyện, Đôn Ki-hô-tê một con người chứa đầy mâu thuẫn và hoang tưởng nhưng cũng là một con người giàu những lí tưởng cao đẹp. Đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió tiêu biểu cho con người Đôn Ki-hô-tê. Tiêu biểu cho lí tưởng cao đẹp và hành động điên rồ.

Đôn Ki-hô-tê là một lão quý tộc nghèo ở nông thôn. Người lão gầy gò, cao lênh khênh, ở độ tuổi năm mươi. Lão say mê truyện hiệp sĩ phiêu lưu, mạo hiểm, đầu óc lão ngày càng trở nên mụ mẫm, chìm đắm trong ảo tưởng, hoang tưởng. Lão mơ ước trở thành một hiệp sĩ giang hồ đi khắp đất nước Tây Ban Nha, phò đời cứu nguy, diệt trừ lũ khổng lồ yêu quái, thiết lập lại trật tự và công lí, để lại bao chiến công oanh liệt cho đời.

Con ngựa còm theo lão trên hành trình đi tìm công lí được phong cho cái tên rất oai “chiến mã Rô-xi-nan-tê còn lão tự xưng là hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Man-tra. Anh nông dân lùn, cục mịch được lão phong tước giám mã Xan-chô Pan- xa. Đã là hiệp sĩ thời thượng thì phải có tình nhân. Nhớ tới một phụ nữ mà lão yêu thầm thời trai trẻ, lão liền ban cho người đàn bà nhà quê ấy một cái tên rất quý tộc, mĩ miều: Công nương Đuyn-xi-nê-a đuy Tô-bô-xô. Lão làm lễ thụ phong trước ngày lên đường chinh chiến. Rất hài hước là lão tìm được binh khí, giáp trụ của tổ tiên đã han gỉ, lão sửa chữa, đánh bóng lại để tự vũ trang cho mình.

Sau trận đánh với bọn lái buôn thất bại, giờ đây lão lại ra đi với mộng chiến công mới. Lần này có quan giám mã Xan-chô theo hầu. Trận đánh nhau với lũ cối xay gió là một trận đánh nảy lửa, là đỉnh cao của màn hài kịch, chế giễu những kẻ ngông cuồng, mê muội, luôn sống trong mộng tưởng, hão huyền.

Trận đánh diễn ra vào lúc ban trưa. Từ xa nhìn thấy ba, bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng, hiệp sĩ xứ Man-tra reo lên vì vận may đã đến, quân địch là mấy chục tên khổng lồ hung tợn mà cánh tay của mỗi đứa dài gần hai dặm. Lão phải kết liễu đời lũ khổng lồ yêu quái này, trước là để thu chiến lợi phẩm mà trở nên giàu có, sau nữa là để quét sạch cái giống xấu xa này khỏi trái đất và đề phụng sự Chúa. Phải công bằng mà nói, tuy lão có “nhìn gà hoá cáo” nhưng mục tiêu của lão không kém phần thiêng liêng! Mặc dù đã được giám mã Xan-chô can ngăn hết lời nhưng hiệp sĩ vẫn bỏ ngoài tai hết. Trước khi giao chiến, Đôn Ki-hô-tê nói rất hùng hồn, lúc thì quát nạt giám mã: Nếu anh sợ thì hãy lánh xa ra mà cầu kinh trong lúc ta sẽ đương đầu với chúng trong một cuộc giao tranh điên cuồng và không cân xứng, lúc thì lão thét lớn, đằng đằng sát khí: Lũ súc sinh kia, không được chạy trốn! Có ta là hiệp sĩ một thương một mã đến đọ sức với bọn ngươi đây!, lúc thì oai phong lẫm liệt cảnh cáo: Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cánh tay hơn cả gã khổng lồ Bri-a-rê-ô, các ngươi cũng sắp phải đền tội!. Trước khi giao tranh với lũ “khổng lồ”, Đôn Ki-hô-tê không quên cầu mong nàng Đuyn-xi-nê-a phù hộ và giúp cho trong cơn nguy biến này. Tư thế của lão hiệp sĩ vô cùng dũng mãnh, hiên ngang lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, lão thúc con ngựa còm Rô-xi-nan-tê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất… Lão đã đâm mũi giáo vào cánh quạt. Tưởng lũ khổng lồ sẽ đổ máu xương tan. Ai ngờ gió càng làm cánh quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành. Còn đây là hình ảnh lão hiệp sĩ lừng danh trên chiên địa: Cả người và ngựa ngã văng ra xa. Lúc quan giám mã thúc lừa tới cứu thì đã thấy chủ tướng nằm không cựa quậy sau cái ngã như trời giáng.

Nghệ thuật dựng cảnh và kể rất tài tình làm hiện lên một trận đánh thời trung cỗ. Có dàn trận, có đấu khẩu trước lúc giao phong, có cảnh đánh nhau dữ dội, quyết tử, có bãi chiến trường sau trận đánh. Hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê bỗng chốc đã trở thành “người hùng” đích thực sống trong ảo mộng hão huyền sự mụ mẫm đã lên đến tột độ. cối xay gió mà lão tưởng là khổng lồ quái vật! Ngôn ngữ khoác lác, trống rỗng, cũng thét vang lúc xung trận. Cử chỉ, điệu bộ và hành động cũng rất tự tin, đàng hoàng, cực kì oai phong, lẫm liệt! Đúng là coi cái chết tựa lông hồng! Người đọc không nhịn được cười khi lão hiệp sĩ cầu cứu tình thương trước lúc giao tranh! Hình ảnh Đôn Ki-hô-tê nằm ỉm không cựa quậy trên mặt đất trước cặp mắt của giám mã là nét vẽ biếm hoạ đặc sắc nhất có giá trị chế giễu tầng lớp hiệp sĩ thời Trung cổ đã lỗi thời! Đoạn văn thật hài hước và hóm hỉnh.

 “Chết nhưng cái nết không chừa!”, bị thảm bại nhục nhã mà vẫn còn khoác lác, trước lời an ủi của giám mã, Đôn Ki-hô-tê đã chỉ cho anh kéo lừa biết rằng cái nghê cung kiếm thường biến hoá khôn lường, nghĩa là sự thắng bại là chuyện bình thường. Nguyên nhân thất bại theo Đôn Ki-hô-tê là rất bất ngờ vì lão pháp sư Phơ-re-xtôn đã đánh cắp sách vở của lão. Hắn đã thâm thù ta, hắn đã tước phần vinh quang chiến thắng của ta! Phải chẳng đó là khẩu khí của hiệp sĩ xứ Man-tra lừng danh thiên hạ!

Chủ thì như vậy! Còn chiến mã Rô-xi-nan-tê thì sao? Thương cho con ngựa gầy nhom bị toạc nửa vai vẫn phải cõng chủ. Đôn Ki-hô-tê quyết đi về phía cảng, hi vọng sẽ được gặp nhiều chuyện phiêu lưu khác để thi thố tài năng. Hiệp sĩ tỏ ra rất buồn phiền vì cái giáo bị gãy. Sách vở kiếm hiệp lại ru lão vào giấc mộng hão huyền. Lão nhắc tới hiệp sĩ Tây Ban Nha ngày xưa là Va-gax, giữa trận đánh gãy gươm, đã nhổ cây làm vũ khí rồi tiêu diệt quân Mô- rô, nhờ thế mà trở nên bất tử với biệt hiệu Hiệp sĩ diệt địch, làm rạng rỡ muôn đời con cháu mai sau. Kể lại câu chuyện ấy để làm gì? Có phải Đôn Ki-hô-tê muốn nói lên chí hướng của mình, muốn theo gương người xưa, cũng sẽ nhổ cây để diệt địch, sẽ lập nên những chiến công hiển hách chăng? Mà giám mã sẽ là người có diễm phúc được mục kích! Qua đó, ta thấy Đôn Ki-hô-tê vẫn kiêu hùng, tự tin, đầu óc ông ta quá mê muội, khoác lác đến cực độ!

Nét “anh hùng” của Đôn Ki-hô-tê còn được thể hiện khi giám mã “thật thà” nhằc lại sự thất trận vừa qua, cái ngã chắc hẳn làm ngài vẹo sang một bên thì chàng hiệp sĩ hồn nhiên trả lời: Đúng thế! Và ta không kêu đau là vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài. Khi Xan-chô tâm sự là nếu có bị gai đâm cũng kêu thì ông chủ tài ba đã không nhịn được cười, đĩnh đạc nói với giám mã cứ việc rên la vì cho tới nay chưa thấy sách kiếm hiệp nào ngăn cấm cả.

Lại nói đến chuyện ăn ngủ của hai thầy trò chàng hiệp sĩ. Hai thầy trò cùng đi giang hồ, với “lí tưởng” dẹp bất công, cứu nguy phò đời nhưng trong tâm hồn, tính cách là hai thế giới riêng biệt! Đến giờ ăn, chẳng hiểu vì sao mả hiệp sĩ chưa cần ăn. Còn Xan-chô, sau khi được phép của chủ, ngồi thoải mái trên lưng lừa ung dung đánh chén, tu bầu rượu một cách ngon lành. Xan-chô vừa nhắm rượu đã quên cả những lời hứa hẹn của chủ phong cho anh ta làm thống đốc sau này. Giám mã vui vẻ suy ngẫm về cái nghề đi tìm kiếm chuyến phiêu lưu dù có nguy hiểm đến đâu, cũng chẳng vất vả. Đó là một nét vẽ hài hước về sự “cái miếng ăn gần, cái ước mơ xa” ở đời! Sau ăn là chuyện ngủ. Đêm đến, hai thầy trò nằm dưới gốc cây, Giám mã đã no say làm một giấc đến sáng. Trái lại, Đôn Ki-hô-tê thì suốt đêm thao thức. Chàng bẻ một cành khô lắp vào cán gẫy làm thành ngọn giáo! Chàng trằn trọc thâu đêm vì thương nhớ tình nương Đuyn-xi-nê-a. Chiều qua đã nhịn, sáng nay không ăn, chẳng phái vì đau mà không ăn được là vì chàng đang sống trong mộng mị, vì chỉ nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi!

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo hay nhất (3 mẫu)

Xan-chô là nhân vật phụ, một nét vẽ bổ trợ, rất sống động, có giá trị làm nổi bật tính cách ngông cuồng, mụ mẫm, ôm ấp những mộng tưởng hão huyền của nhân vật chính. Mặt khác cũng thể hiện được một quan niệm sống chất phác, hồn nhiên, giản dị… của những người dân quê yêu đời, thiết thực.

Cảnh Đánh nhau với cối xay gió đã ghi lại được “chiến công hiển hách” của Đôn Ki-hô-tê, hiệp sĩ xứ Man-tra. Với thủ pháp trào lộng, phóng đại và tương phản đối lập trong kể chuyện để dựng cảnh, ta thấy hiện lên trang hiệp sĩ lỗi thời thời Trung cổ Tây Ban Nha. Phải chăng đằng sau “trận đánh” là nụ cười hóm hỉnh của Xéc-van-tét. Và sau nụ cười chế giễu đó, người đọc thầm nhận thấy nhà văn đã đề cao trong một chừng mực tình yêu tự do, bình đẳng, sống thiết thực, yêu đời,… mang tính nhân văn.

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 2

Xéc-van-tét là nhà văn Tây Ban Nha, ông sống một cuộc đời âm thầm vất vả cho đến khi ông cho ra đời bộ tiểu thuyết có tên “Đôn Ki-hô-tê”. Văn bản đánh nhau với cối xay gió được trích trong tiểu thuyết này. Qua đoạn trích ta thấy rõ tài năng trong việc xây dựng cặp nhân vật  bất hủ Đôn Ki-hô-tê và Xan–chô-Pan–xa tương phản về mọi mặt. Bức chân dung của hai nhân vật mỗi lúc được hiện lên một cách rõ nét hơn từ quan niệm hành  động đến những ước mơ và cách nhìn nhận về cuộc sống. 

Trước tiên nhân vật Đôn Ki-hô-tê là một nhân vật chính xuất thân là một gia đình quý tộc đã đứng tuổi dáng hình gầy gò hốc hác cao lêu khêu như cây gậy. Trang phục của hắn cũng như trang phục của những người hiệp sĩ thời trung cổ khác,cưỡi trên lưng một con ngựa gậy bên hông đeo một thanh gươm cổ và một tấm khiên rỉ. Dường như hắn đã đọc quá nhiều chuyện kiếm hiệp thế nên cách quan sát và nhận diện của hắn có phần hơi ảo tưởng hắn đã tưởng những chiếc cối xay gió chính là những kẻ khổng lồ và hắn còn cho rằng đây là vận may đến với hắn. Hắn mang mộng sẽ quét tất cả những gã này khỏi trái đất sẽ đánh cho chúng một trận tơi tả. Qua đó ta thấy được hình tượng nhân vật hiện lên bước đầu khá ấn tượng về một anh chàng không mấy thông minh và có phần hơi ngớ ngẩn. Từ đó ta thấy được cách kể chuyện của tác giả cũng mang rất nhiều tính hài hước nhưng vẫn khiến cho người đọc hồi hộp chờ xem kết quả của trận đấu sẽ thảm hại như thế nào. 

Và kết quả cũng đúng như dự đoán của chúng ta đó là chiếc giáo gãy tan tành kéo theo cả người và ngựa ngã văng ra xa. Đôn Ki-hô-tê nằm yên không cựa quậy con ngựa thì cũng thảm hại không kém khi nó bị chủ nhân làm cho bị toạc cả nửa vai. Hành động của hắn cũng rất dũng cảm kiên cường đại diện cho những hiệp sĩ thời bấy giờ nhưng cũng thật đáng tiếc cho hắn khi kẻ thù chỉ là một tên được hắn hoang tưởng ra. Đến khi thất bại hắn vẫn không nhận ra sự thật mà còn cho rằng đó chỉ là chuyện chinh chiến biến hóa khôn lường mà thôi. Qua đó ta cũng thấy được hắn có một tâm hồn cũng rất lạc quan. Bên cạnh vẻ ngoài và trí tuệ có phần hơi ngớ ngẩn thế nhưng hắn lại có một tâm hồn rất trong sáng và chung thủy khi hắn bẻ một cành khô rút chiếc mũi sắt ở chiếc cán gãy lắp vào làm thành ngọn giáo và thức suốt đêm không ngủ để nghĩ đến nàng Đuyn-xi-nê-a. Tóm lại hình tượng nhân vật chính hiện lên là một người mê muội hoang tưởng không bình thường điên rồ hài hước buồn cười. Tuy vậy ở chàng vẫn hiện lên những phẩm chất rất tốt đẹp như sự tự lòng dũng cảm có thể đánh được quân giặc không sợ hiểm nguy và coi khinh cái tầm thường cái thực dụng từ hành động khi bị thương đau nhưng vẫn không kêu đau không rên rỉ và không lấy việc ăn uống là mấy thích thú. Tình yêu của hắn đối với nàng Đuyn-xi-nê-a cũng khiến chúng ta cảm thấy thật ngưỡng mộ khi hắn thức suốt đêm  để cầu nguyện cho nàng được cứu giúp mỗi khi hiểm nguy và chỉ cần nghĩ đến người yêu cũng đủ để hắn cảm thấy no rồi. Tình yêu của hắn vừa khiếm cho chúng ta chê cười vừa đáng để chúng  ta cảm phục về tấm lòng thủy chung thành tâm đối với người mình yêu thương.

Đối nghịch hoàn toàn đối với nhân vật Đôn Ki-hô-tê chính là nhân vật Xan chô Pan xa là một gã nông dân lùn và mập trang phục của hắn cũng rất hài hước khi hắn cưỡi một con lừa khiến cho hắn càng lùn hơn. Hắn là một con người sống rất thực tế vừa ngây thơ thật thà nhưng cũng rất ranh mãnh. Hắn ra đi với Đôn Ki-hô-tê không phải là vì khát vọng nào đó mà chính là vì danh lợi hy vọng lên được chức tổng trấn trên một hòn đảo và sống một cuộc đời giàu sang phú quý. Khi trông thấy cối xay gió hắn rất tỉnh táo khi nhận ra rằng đó chẳng phải là một người khổng lồ nào cả mà chính là những chiếc cối xay gió và khi có gió những cánh tay kia sẽ quay mà thôi. Thế nhưng khi đã nhận ra hắn lại không can ngăn ông chủ của mình mà lại để cho chủ đi đánh khi biết trước kết quả sẽ như thế nào. Khi nhận thấy ông chủ đã ngã ngựa thì hắn chạy ngay đến để đỡ Đôn Ki-hô-tê lên ngựa thế nhưng không ngừng chê cười đầu óc ông chủ cũng chỉ quay cuồng như những chiếc cối xay đó mà thôi. Hắn cũng nhận rằng chỉ bị hơi đau một chút là hắn sẽ rên rỉ ngay lập tức. Bên cạnh đó chúng ta còn nhận thấy rằng hắn là một tay rất háu ăn ngủ Bằng ngòi bút sinh động, hóm hỉnh, Xéc-van-tét đã khắc họa nhân vật giám mã Xan-chô với những nét ngoại hình và tính cách trái ngược hẳn với Đôn Ki-hô-tê. 

Đánh nhau với cối xay gió là một cuộc phiêu lưu, một trận đánh kì quặc. Chúng ta thấy Đôn Ki-hô-tê thật nực cười, nhưng cũng đáng yêu, còn Xan-chô Pan-xa tuy có những mặt tốt đáng qúy, nhưng cũng còn có nét tính cách chưa tốt, đáng chê. Như vậy, hai nhân vật này tuy rất trái ngược nhau cả về hình dáng và tính cách nhưng vẫn là đôi tri kỷ thân thiết. Hai bên đã chịu ảnh hưởng của nhau rất sâu sắc. Thật là một cặp nhân vật bất hủ trong văn chương thời Trung cổ. 

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 3

Đánh nhau với cối xay gió là một chiến công đặc biệt của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê tài ba xứ Mantra. Hiệp sĩ này là nhân vật chính do nhà văn Tây Ban Nha Xéc-van-tét sáng tạo ra trong cuốn tiểu thuyết cùng tên. Đôn Ki-hô-tê vốn là một nhà quý tộc nghèo, tuổi đời ngót nghét năm mươi, suốt ngày chỉ lấy sách vở làm bạn bè và làm thú vui tiêu khiển. Nhưng sách vở mà nhà quý tộc đọc lại là truyện kiếm hiệp phiêu lưu, là các truyện hiệp sĩ mà phần lớn là bịa đặt chứ không có thật. Nhà quý tộc bị mê hoặc bởi thế giới các hiệp sĩ và các chiến công của họ đã quyết tâm bỏ nhà ra đi làm hiệp sĩ, sống cuộc đời lang thang nay đây mai đó. Mục đích ra đi của Đôn Ki-hô-tê là diệt trừ cái ác và lập lại công bằng, cứu nghèo cứu khổ. Đắm mình trong thế giới hiệp sĩ, Đôn Ki-hô-tê cũng chìm đắm trong thế giới hoang tưởng. Vì thế trên mọi nẻo đường ông đi ở đâu ông cũng thấy những tên khổng lồ những con yêu tinh… đang hoành hành gây tội ác. Những tên khổng lồ, những con quái vật đều gắn liền với trí tưởng tượng của Đôn Ki-hô-tê. Trên con đường đi tìm lẽ công bằng ở đời, Đôn Ki-hô-tê còn có một người giám mã rất đỗi trung thành và rất đúng hình mẫu sách vở mà ông đã đọc, đó là người nông dân Xantrô Panxa tốt bụng, hay ăn vô lo và cũng rất yêu đời. Họ cùng đi với nhau trên mọi nẻo đường đất nước, cùng chung hoạn nạn, cùng sẻ chia mọi nỗi buồn. 

Những tên khổng lồ xuất hiện trên con đường thực hiện công lý của nhà hiệp sĩ là những cối xay gió, tới “ba bốn chục chiến cối xay gió giữa đồng”, chúng dường như hiện ra đột ngột, bất ngờ và nhanh chóng tạo ra một hoang tưởng trong đầu óc của nhà hiệp sĩ cao lênh khênh mà lại gầy còm một cách thảm hại đang ngất nghểu trên lưng con chiến mã Rô-xi-nan-tê cũng gầy còm tới mức chỉ còn da bọc xương. Luôn luôn mơ ước lập được các chiến công như các hiệp sĩ thời xưa cho nên Đôn Ki-hô-tê thấy rằng đây là một dịp tốt: “Vận may dun dủi khiến cho sự nghiệp của chúng ta đẹp quá sự mong muốn. Này, anh bạn Xantrô Panxa, anh có trông thấy mấy chục tên khổng lồ kia không? Để ta xông ra kết liễu đời chúng; với những chiến lợi phẩm thu được chúng ta sẽ trở nên giàu sang phú quý…”. Một cánh đồng mênh mông, những chiếc cối xay gió sừng sững quả là một bối cảnh nên thơ cho trí tưởng tượng hoang tưởng, điên rồ của nhà hiệp sĩ. Tuy nhiên người giám mã của chàng thì lại không hoang tưởng chút nào. Vì thế khi nghe chủ nhân nói tới những tên khổng lồ anh ta hỏi ngay: “Những tên khổng lồ nào cơ?”-một câu hỏi cơ hồ như anh ta ở trên trời rơi xuống chứ không phải là giám mã luôn luôn đi kèm sát bên hiệp sĩ mà mình phải phò tá. Đôn Ki-hô-tê chỉ ngay cho anh ta thấy: “Những tên mà anh nhìn thấy ở trước mắt kia kìa. Cánh tay chúng rất dài, có cái tới gần hai dặm”. Đầu óc thực tiễn của Xantrô nhận ra ngay sự nhầm lẫn của ông chủ. Anh ta thấy sự cần thiết phải giải thích cho ông chủ: “Xin ngài coi chừng. Cái mà ngài tưởng là người khổng lồ chỉ là những chiếc cối xay gió, còn cái vật trông giống cánh tay là những cánh quạt; khi có gió sẽ quay tròn làm chuyển cối đá bên trong”. 

Ở đây có một điểm tương đồng: Đôn Ki-hô-tê nhìn những chiếc cánh quạt như là những cánh tay, còn Xantrô cũng cho là “giống cánh tay”. Nhưng sự tương đồng này sẽ bị khúc xạ bởi hai đầu óc khác nhau: một thì hoang tưởng, một thì tỉnh táo, để rồi làm bật ra một tiếng cười hóm hỉnh nhẹ nhàng. Nhà hiệp sĩ thấy rằng cần phải chứng minh cho người giám mã không hiểu biết gì về những chuyện phiêu lưu bằng một sự khẳng định chắc chắn: “Quả là anh chẳng hiểu gì những chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Đó chính là những tên khổng lồ. Nếu anh sợ thì hãy mau mau lánh ra xa mà cầu kinh trong lúc ta đương đầu với chúng trong một cuộc giao tranh gay go và chênh lệch”. Sự “chênh lệch” thì đã quá rõ, còn “phiêu lưu” thì cũng dễ nhận ra, “gay go” thì khỏi phải nói. Trước hết Đôn Ki-hô-tê chủ động chấp nhận trận đấu không cân sức bằng cách “thúc con Rô-xi-nan-tê xông lên”, “chẳng thèm để ý” đến mọi lời khuyên can. Giữa cái bối cảnh hùng vĩ và nên thơ ấy và trước những đối thủ câm lặng, nhà hiệp sĩ tài ba đưa ra lời tuyên chiến của mình bằng cách “thét lớn”: “”Lũ súc sinh kia không được chạy trốn! Có ta là hiệp sĩ một thương một mã đến đọ sức với bọn ngươi đây”. Bọn khổng lồ cũng không vừa, chúng cũng ra tay đối phó: “một cơn gió nhẹ làm quay những cánh quạt”. Và thế là nhà hiệp sĩ lên tiếng khẳng định sức mạnh tài ba của mình: “Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cánh tay hơn cả khổng lồ Bri-a-rê-ô, các ngươi cũng sẽ phải đền tội. 

Xem thêm bài viết hay:  2 bài văn mẫu Kể lại sự việc em lỡ gây ra khiến bố mẹ buồn phiền hay nhất

Nhưng đây còn là cuộc chiến giữa chiến sĩ diệt yêu quái và lũ yêu quái, nên thể thức cũng có những cái khác thường. Đó là theo truyền thống hiệp sĩ, khi vào trận chiến các hiệp sĩ đều hướng lời cầu nguyện của mình về tình nương mà mình tôn thờ. Không trái với phong tục, Đôn Ki-hô-tê cũng cầu cứu nàng Đuyn-xi-nê-a, xin nàng hãy giúp cho trong cơn nguy biến này. Cũng vẫn nói thêm rằng nàng Đuyn-xi-nê-a người mà trái tim của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê tôn thờ chỉ là một sản phẩm hoang tưởng của đầu óc mụ mị bởi ảnh hưởng của các tiểu thuyết mà nhà quý tộc kia đã đọc trong mấy chục năm qua. Khi cầu nguyện như vậy thì dường như sức mạnh được nhân đôi, lòng dũng cảm cũng được tăng lên gấp bội, khi đó “Đôn Ki-hô-tê vừa lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, thúc con Rô-xi-nan-tê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất”. Hình ảnh người hiệp sĩ mới đẹp làm sao, hình ảnh đó toát ra một phẩm chất anh hùng lẫm liệt, một dáng dấp oai phong. Hình ảnh đó sẽ trở lên tuyệt vời nếu những tên khổng lồ, những con yêu tinh kia là thực. Còn ở đây chỉ là những chiếc cối xay gió bình thường thực tới mức hai năm rõ mười, cho nên hình ảnh ấy trở nên buồn cười như chính những gì đã xảy ra: “Đúng lúc chàng đâm mũi giáo vào cánh quạt cối xay, gió nổi lên dữ dội, cánh quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành, cả người lẫn ngựa ngã chổng kềnh ra đất”. Mọi cái hoang tưởng đều biến đi, chỉ còn Đôn Ki-hô-tê “nằm không cựa quậy sau cái ngã như trời giáng”. Cuộc chiến cũng kết thúc. 

Trận chiến đấu diễn ra rất bài bản, tuần tự nhưng diễn biến thì rất chóng vánh, chỉ trong chớp mắt, tới mức giám mã “Xantrô Panxa thúc lùa tới cứu” thì cũng không kịp: chủ nhân của anh ta đã bị thất bại. Anh ta chỉ còn biết cách kêu trời và lên án những câu chuyện hoang tưởng. Cách lập luận của Xantrô càng thực tế hơn bao giờ hết: “Tôi đã chẳng bảo ngài phải coi chừng việc làm của mình rồi đấy ư? Rằng đó chỉ là những chiếc cối xay gió thôi ư? Ai mà chả biết thể trừ kẻ nào đầu óc cũng quay cuồng như cối xay vậy”. Anh ta lo cho chủ nhân, buồn cho sự đau đớn của chủ nhân, còn anh ta cũng chẳng hề quan tâm tới việc thắng thua, bởi lẽ đánh nhau với cối xay gió chỉ là việc rồ dại. Chủ nhân của anh ta, hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê trứ danh cho dù đau đớn, cho dù thất bại thì vẫn đang chìm đắm trong trò chơi hiệp sĩ hoang tưởng. Chàng chỉ cho giám mã của mình biết: “Thôi im đi, anh bạn Xantrô. Phải biết rằng cái nghề cung kiếm này hơn các nghề khác ở chỗ luôn luôn biến chuyển. Đúng là lão pháp sư Phơ-re-xtôn trước đây đã đánh cắp thư phòng và sách vở của ta, bây giờ lại biến những tên khổng lồ này thành những chiếc cối xay gió để tước mất của ta phần vinh quang chiến thắng. Hắn thâm thù ta như vậy cơ? Nhưng rồi pháp thuật của hẳn cũng sẽ bị thanh kiểm lợi hại của ta khuất phục thôi”. Những hư cấu từ các tiểu thuyết hiệp sĩ đã đọc luôn luôn ám ảnh Đôn Ki-hô-tê. Do đó vinh quang đáng lẽ thuộc về anh thì lại bị một gã pháp sư có nhiều pháp thuật hơn tước đoạt mất, vì thế anh lại cùng người giám mã của mình đi tìm những cuộc phiêu lưu mới. 

Nỗi buồn lớn nhất của anh là trên đường đi anh không còn giáo nữa. Anh nhớ tới hiệp sĩ Đi-ê-gô Pêrex đê Vagax trong một cuốn sách. Trong một trận chiến đấu hiệp sĩ này đã bị gãy gươm nhưng chàng không nao núng, chàng đã nhổ mọi cây sồi làm vũ khí và đã giết được không biết bao nhiêu là giặc. Đôn Ki-hô-tê kể lại chuyện đó với người giám mã của mình và hứa với Xantrô là sẽ noi gương người hiệp sĩ kia. Song cú ngã như trời giáng lúc nãy đang làm cho anh “vẹo vọ” đi và cho dù vậy thì anh cũng chẳng dám kêu đau vì theo luật giang hồ các hiệp sĩ “có bị thương cũng không được rên rỉ, dù xổ cả ruột ra ngoài”. Một tiếng cười hóm hỉnh lại bật ra khi Xantrô đưa ra ý kiến so sánh: “Riêng phần tôi, chỉ cẩn bị gai đâm là tôi kêu đau ngay, trừ phi người ta cấm cả giám mã của hiệp sĩ giang hồ kêu”. Sự hóm hỉnh ở đây góp phần thể hiện sự tương phản giữa hai tính cách: một bên hoang tưởng còn bên kia rất thực tế, một bên điên rồ, một bên rất tỉnh táo. Đây cùng là lần đầu tiên Xantrô bỏ nhà ra đi làm giám mã cho một hiệp sĩ và đây cũng là lần đầu tiên anh ta chứng kiến vị hiệp sĩ của mình ra trận không phải tả xung hữu đột, như múa như bay giữa trận tiền mà “ngã như trời giáng”. Tuy nhiên Xantrô rất quý ông chủ vì ông ta cho phép anh được ăn, được ngủ thoải mái. Vừa đi, anh ta “vừa ăn một cách khoái trá”, vừa “nghiêng bầu rượu tu một hơi ngon lành” khiến Xantrô “cảm thấy cái nghề đi tìm kiếm chuyện phiêu lưu này tuy có nguy hiểm song cũng không đến nỗi vất vả”. Như vậy tính chất thực tiễn lại xuất hiện: làm hiệp sĩ lang thang trở thành một cái nghề có thể kiếm sống được. 

Một ngày được khép lại cùng giấc ngủ nặng nề đang kéo đến với Xantrô. Còn hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê thì lại tiếp tục bắt chước các trang hiệp sĩ khác từng thức đêm thức hôm để nhớ tới tình nương sau khi đã “bẻ một cành khô, rút cái mũi sắt ở cái cán gãy lắp vào làm thành một ngọn, giáo mới”. Chàng hiệp sĩ không ngủ để mà nghĩ tới nàng Đuyn-xi-nê-a, cho dù trong trận chiến đấu chống lại lũ khổng lồ có hình thù là những chiếc cối xay gió kia nàng đã không tỏ ra hào hiệp giúp chàng, nàng cũng lại thờ ơ với cả cú “ngã như trời giáng” của chàng nữa. Cho dù vậy, là một hiệp sĩ chân chính Đôn Ki-hô-tê luôn tỏ ra trung thành với tình nương của mình mà biểu hiện độc đáo nhất là không ăn không ngủ, bởi vì chàng “nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi”. Tiếng cười nhẹ nhàng vừa giễu cợt vừa trêu chọc đã làm cho nhân vật trở nên sống động. 

Cho dù những hành động trong thực tế mang tính điên rồ ảo tưởng song lý tưởng mà Đôn Ki-hô-tê theo đuổi lại rất đáng trân trọng, bởi lẽ anh là người hiệp sĩ chân chính đi tìm tự do, khi Tây Ban Nha tự do bị bóp nghẹt, quyền sống bị chà đạp; ở đó bọn khổng lồ, bọn yêu tinh có mặt khắp nơi, hoành hành mọi nẻo; ở đó cái ác đang tồn tại và vì vậy cũng cần tới những hiệp sĩ chân chính để phò nguy cứu khổ, để tiêu diệt cái ác. Sự kết hợp giữa hai thầy trò Đôn Ki-hô-tê cũng là một sự kết hợp độc đáo, bởi lẽ ở đây vừa có sự huyễn hoặc lại vừa có sự tỉnh táo mà các nét này lại được phân bố ở cả hai người. Nếu thực hiện một phép lựa chọn theo kiểu tước bỏ những nét tiêu cực ở cả hai nhân vật và kết hợp chúng lại, ta sẽ có một nhân vật hoàn chỉnh đạt tới mức độ lý tưởng. Đó là nhân vật của ước mơ, của khát vọng của những người dân lương thiện ở Tây Ban Nha trong thời kỳ Phục Hưng.

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 4

Chưa có nhân vật nào gây nhiều ấn tượng sâu sắc và lí thú như nhân vật Đôn-ki-hô-tê trong tác phẩm của nhà văn Xéc-van-tét, một người đáng thương nhưng cũng rất đáng chê với những hành động nực cười của mình.

Ki-ha-da, một nhà quí tộc bình thường, thú vui của chàng là đi săn và câu cá. Vậy mà khi chàng đọc những quyển truyện kiếm hiệp chàng đã say mê đọc suốt ngày bỏ cả những thú vui của mình và bán hết ruộng vườn, tài sản mình có để mua truyện kiếm hiệp, nhưng tệ hơn nữa là chàng nghĩ tất cả những điều trong truyện đều có thật và muốn phiêu lưu một chuyến trong thiên hạ. Chàng đã biến cái tên thật của mình thành cái tên ‘Đô-ki-hô-tê nhà quí tộc tài ở xứ Man-tra’,biến con ngựa gầy còm của mình thành con tuấn mã và bỏ biết bao nhiêu thời gian để chuẩn bị cho cuộc chu du này.

Chàng ra đi với người giám mã Xa-chô Pan-xa, một người thực tế, gặp may mắn thì ít mà rủi ro thất bại thì nhiều. Buồn cười nhất là cuộc đánh nhau giữa chàng và cối xay gió. Chàng đã tưởng tượng cối xay gió là một tên khổng lồ gian ác và cứ xông vào đánh bất kể lời can thiệp của Xan-chô Phan-xa. Kết quả ra sao chắc các bạn cũng biết đó. Đôn-ki-hô-tê đã chịu một thất bại ê chề đau khổ. Với những hành động điên rồ, không phải chàng là người đáng ghét, mục đích của chàng là cứu người yếu, diệt kẻ gian tà. Chàng đã kiên nhẫn qua bao cuộc ra đi thất bại nhưng chàng không nản chí, vẫn ra đi để tiếp tục cuộc chu du. Bên cạnh chàng là một giám mã có đầu óc thật thực tế. Chàng đánh nhau vì muốn có ý nghĩ cứu người nhưng không biết hành động của mình đều sai cả. Để giữ mình đúng là một quí tộc, chàng đã nhịn ăn, rồi không kêu đau khi bị thương. Như vậy chàng cũng là một người đáng thương. Nhưng em nghĩ rằng bất cứ người nào dù có mục đích tốt đẹp đi chăng nữa nhưng với đầu óc điên rồ thì cũng chẳng làm được gì cả.

Qua tác phẩm, em đã rút ra một bài học từ nhân vật đã gây nhiều tranh cãi này. Không nên đọc những cuốn truyện nhảm nhí và đừng quá say mê đến nỗi lại tưởng tượng chuyện đó là có thật. Đôn-ki-hô-tê đã phí tuổi thanh xuân của mình cho những hành động nực cười. Nhưng may thay đến lúc chết chàng đã nhận thấy hậu quả của việc làm này. Đôn-ki-hô-tê đã phải trả giá. Em viết về nhân vật khá lý thú. Thái độ của em với nhân vật rạch ròi nhưng mới thấy phần đáng ghét mà chưa thấy rõ phần đáng thương, thậm chí đáng yêu của nhân vật này.

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 5

Vào thế kỉ thứ 16, ở Tây Ban Nha lưu truyền những truyện hoang đường, phi lí về các hiệp sĩ. Đôn-ki-hô-tê phỏng theo câu chuyện của một nhà quý tộc nghèo tên là Quesada, say mê những truyện này đến độ cuồng si, có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua truyện hết.

Đầu óc chàng ta lúc nào cũng đầy ắp những ý tưởng về sự mê hoặc, gây gổ, choảng nhau, thách đâu, thương vong, oán trách, tình tứ, dằn vặt, mơ ước thành những người khổng lồ, có những người khổng lồ, có những lâu đài tráng lệ và những cuộc giải cứu hào hùng cho các thiếu nữ xinh đẹp bị bắt cóc. Tất cả những hành động can trường ấy tuy chỉ có trong tưởng tượng, nhưng đối với chàng ta hoàn toàn là sự thật. Dưới con mắt của chàng, mỗi chủ quán rượu là một vị đại thần, mỗi người cưỡi ngựa là một hiệp sĩ!

Đây là cơ sở ban đầu để hình thành truyện Đôn-ki-hô-tê và đoạn ‘Đánh nhau với cối xay gió’ là điển hình cho tính ngông cuồng của Đôn-ki-hô-tê.

Qua những diễn biến của đoạn trích ‘Đánh nhau với cối xay gió’, có thể chia làm ba phần: Đôn-ki-hô-tê tưởng cối xay gió là những tên khổng lồ… lao vào việc giao tranh gay go quyết liệt với cối xay gió; Nhà ‘hiệp sĩ’ bị cối xay gió quật ngã như trời giáng; Sau khi đánh nhau với cối xay gió, hai thầy trò đàm luận… Đôn-ki-hô- tê nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi. Sự tương phản giữa hai thầy trò Đôn-ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa tạo nên một bức tranh hài hước, nhưng lại bổ sung cho nhau về tính cách và quan niệm sống.

Xem thêm bài viết hay:  50+ mẫu Kể lại lần em cùng bố, mẹ (hoặc anh, chị) đi thăm mộ người thân | Văn mẫu lớp 9

Trước hết là sự tương phản về hình thức: Một người dòng dõi quý tộc, cao, gầy, cưỡi con ngựa còm nhom, mặc chiếc áo giáp cũ kĩ, tay lăm lăm ngọn giáo. Còn một người gốc là nông dân, béo lùn, cưỡi con lừa, đeo trên mình những thức ăn uống. về tính cách thì sự tương phản khiến sự khác biệt càng rõ: Một người thì sống bằng tưởng tượng, tưởng cối xay gió là tên khổng lồ, bị cối xay gió quật cho một trận nên thân, nhưng không rên la, vì đời hiệp sĩ dù có bị ‘sổ ruột ra ngoài’ cũng không hề chi! Ông ta không ham ăn uống và thức suốt đêm để nghĩ đến người tình!

Còn một người thì sống rất thực tế, nhìn cối xay gió là cối xay gió, bị một cái gai đâm có thể kêu đau ngay. Anh ta luôn nghĩ đến ăn uống, rất thoải mái khi ngồi ăn trên mình con lừa và ngủ một mạch từ tối đến sáng không nghĩ gì cả, có chăng là hơi buồn vì bầu nượu bị vơi đi. về quan niệm sống và hành động: Một người thì sống có lí tưởng, hoài bão lớn, cứu khổ phò nguy, trừ ác, hiên ngang, gan dạ, chấp nhận gian nguy, hành động theo đúng bài bản, sách vở của người hiệp sĩ, nhưng điên rồ, hoang tưởng. Còn một người thì tỉnh táo, tự nhiên thoải mái, suy nghĩ sáng suốt, thiết thực nhưng lại nhát sợ, tránh nguy hiểm, đau đớn, thiển cận và vụ lợi.

Nói rằng sự tương phản bề ngoài có vẻ đối lập với nhau, nhưng lại bổ sung cho nhau, vì tách riêng ra mỗi tính cách đều phiến diện, lệch lạc hoặc cực đoan thoái quá, không thể tồn tại trước những thử thách lớn.

Nếu đi với nhau, hai tính cách sẽ bổ sung cho nhau, hạn chế được nhược điểm, phát huy được tru điểm, trở thành sự toàn vẹn của con người trong suy nghĩ và hành động. Vì vậy mà hai người sống với nhau rất hoà thuận, khắng khít, luôn bên nhau suốt những chặng đường gian khổ.

Cảm nhận của em về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió – mẫu 6

Tên tuổi của Xéc-van-tét đã trở thành bất tử với nhân loại, với thời gian bởi cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất thời Phục hưng Đôn Ki-hô-tê. Đây là một kiệt tác sáng ngời chủ nghĩa nhân văn cao đẹp. Tác phẩm được viết trong khoảng 10 năm (1605-1615). Ông đã viết cuốn tiểu thuyết này trong nghèo khổ và nghiệt ngã của cuộc đời. Cuốn tiểu thuyết trọn bộ thì một năm sau nhà văn qua đời. Đổi lại sự mất mát đau thương này, tên tuổi Xéc-van-tét đã xứng đáng đứng ở vị trí vinh quang của những người đặt nền móng cho nền văn học thời đại mới.

Đôn Ki-hô-tê là một lão quý tộc nghèo ở nông thôn. Người lão gầy gò, cao lênh khênh, đang ở độ tuổi năm mươi. Lão say mê các truyện hiệp sĩ phiêu lưu, mạo hiểm, đầu óc lão ngày càng trở nên mụ mẫm, chìm đắm trong mộng tưởng hão huyền. Lão mơ ước trở thành một hiệp sĩ giang hồ đi khắp đất nước Tây Ban Nha, phò đời cứu nguy, diệt trừ lũ khổng lồ yêu quái, thiết lập lại trật tự và công lý, để lại bao chiến công oanh liệt cho đời.

Chiến mã Rô-xi-nan-tê nghe rất oai phong chính là cái tên mà lão phong cho con ngựa gầy của lão. Lão tự xưng là hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê xứ Man-tra. Anh nông dân lùn, cục mịch được lão phong tước giám mã Xan-chô Pan-xa. Đã là hiệp sĩ thời thượng thì phải có tình nhân. Lão nhớ người phụ nữ mà lão yêu thầm nhớ trộm thời trai trẻ, lão liền ban cho ả nhà quê một cái tên rất quý tộc, mĩ miều: Công nương Đuyn-xi-nê-a. Lão làm lễ thụ phong trước ngày lên đường chinh chiến. Rất hài hước là lão tìm được binh khí, giáp trụ của tổ tiên đã han gỉ, lão sửa chữa, đánh bóng lại để tự vũ trang cho mình.

Sau trận đánh với bọn lái buôn thất bại, giờ đây lão lại ra đi với mộng chiến công mới. Lần này có quan giám mã Xan-chô theo hầu. Trận đánh nhau với lũ cối xay gió là một trận đánh nảy lửa, là đỉnh cao của màn hài kịch, chế giễu những kẻ ngông cuồng, mê muội, luôn sống trong mộng tưởng, hão huyền.

Trận đánh diễn ra vào lúc ban trưa. Từ xa nhìn thấy ba, bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng, hiệp sĩ xứ Man-tra reo lên vì vận may đã đến, quân địch là mấy chục tên khổng lồ hung tợn mà cánh tay của mỗi đứa dài gần hai dặm. Lão phải kết liễu đời lũ khổng lồ yêu quái này, trước là để thu chiến lợi phẩm mà trở nên giàu có, sau nữa là để quét sạch cái giống xấu xa này khỏi trái đất và đế phụng sự Chúa. Phải công bằng mà nói, tuy lão có nhìn gà hóa cáo nhưng mục tiêu của lão không kém phần thiêng liêng! Mặc dù đã được giám mã Xan-chô can ngăn hết lời nhưng hiệp sĩ vẫn bỏ ngoài tai hết.

Trước khi giao chiến, Đôn Ki-hô-tê nói rất hùng hồn, lúc thì quát nạt giám mã: Nếu anh sợ thì hãy lánh xa ra mà cầu kinh trong lúc ta sẽ đương đầu với chúng trong một cuộc giao tranh điên cuồng và không cân xứng, lúc thì lão thét lớn, đằng đằng sát khí: Lũ súc sinh kia, không được chạy trốn! Có ta là hiệp sĩ một thương một mã đến đọ sức với bọn ngươi đây, lúc thì oai phong lẫm liệt cảnh cáo: Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cảnh tay hơn cả gã khổng lồ Bri-a-rê-ô, các ngươi cũng sắp phải đền tội. Trước khi giao tranh với lũ “khổng lồ”, Đôn Ki-hô-tê không quên cầu mong nàng Đuyn-xi-nê-a phù hộ và giúp cho trong cơn nguy biến này”. Từ thế của lão hiệp sĩ vô cùng dũng mãnh, hiên ngang lấy khiến che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, lão thức con ngựa Rô-xi-nan-tê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất… Lão đã đâm mũi giáo vào cánh quạt. Tưởng là lũ khổng lồ sẽ đổ máu xương tan. Ai ngờ gió làm cánh quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành. Còn đây là hình ảnh lão hiệp sĩ lừng danh trên chiến địa: Cả người và ngựa ngã văng ra xa. Lúc quan giám mã thúc lừa tới cứu thì đã thấy chủ tướng nằm không cựa quậy sau cái ngã như trời giáng.

Nghệ thuật dựng cảnh và kể rất tài tình làm hiện lên một trận đánh thời trung cổ. Có dàn trận, có đấu khẩu trước lúc giao phong, có cảnh đánh nhau dữ dội, quyết tử, có bãi chiến trường sau trận đánh. Hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê bỗng chốc đã trở thành “người hùng” đích thực sống trong ảo mộng hão huyền, sự mụ mẫm đã lên đến tột độ, Cối xay gió mà lão tưởng là khổng lồ quái vật! Ngôn ngữ khoác lác, trống rỗng, cũng thét vang lúc xung trận. Cử chỉ, điệu bộ và Hành động cũng rất tự tin, đàng hoàng, cực kỳ oai phong, lẫm liệt! Đúng là coi cái chết tựa lông hồng! Người đọc không nhịn được cười khi lão hiệp sĩ cầu cứu tình thương trước lúc giao tranh! Hình ảnh Đôn Ki-hô-tê nằm im không cựa quậy trên mặt đất trước cặp mắt của giám mã là nét vẽ biếm họa đặc sắc nhất có giá trị chế giễu tầng lớp hiệp sĩ thời Trung cổ đã lỗi thời! Đoạn văn thật hài hước và hóm hỉnh.

“Chết nhưng cái nết không chừa!”, bị thảm bại nhục nhã mà vẫn còn khoác lác, trước lời an ủi của giám mã, Đôn Ki-hô-tê đã chỉ cho anh kéo lừa biết rằng cái nghề cung kiếm thường biến hóa khôn lường, nghĩa là sự thắng bại là chuyện bình thường. Nguyên nhân thất bại theo Đôn Ki-hô-tê là rất bất ngờ vì lão pháp sư Phơ-re-xtôn đã đánh cắp sách vở của lão. Hắn đã thâm thù ta, hắn đã tước phần vinh quang chiến thắng của ta! Phải chăng đó là khẩu khí của hiệp sĩ xứ Man-tra lừng danh thiên hạ!

Chủ thì như vậy! Còn chiến mã Rô-xi-nan-tê thì sao? Thương cho con ngựa gầy nhom bị toạc nửa vai vẫn phải cõng chủ. Đôn Ki-hô-tê quyết đi về phía cảng, hy vọng sẽ được gặp nhiều chuyện phiếu lưu khác để thi thố tài năng. Hiệp sĩ tỏ ra rất buồn phiền về cái giáo bị gãy. Sách vở kiếm hiệp lại ru lão vào giấc mộng hão huyền. Lão nhắc tới hiệp sĩ Tây Ban Nha ngày xưa là Va-gax, giữa trận đánh bị gãy gươm, đã nhổ cây làm vũ khí rồi tiêu diệt quân Mô-rô, nhờ thế mà trở nên bất tử với biệt hiệu Hiệp sĩ diệt địch, làm rạng rỡ muôn đời con cháu mai sau. Kể lại câu chuyện ấy để làm gì? Có phải Đôn Ki-hô-tê muốn nói lên chí hướng của mình, muốn theo gương người xưa, cũng sẽ nhổ cây để diệt địch, sẽ lập lên những chiến công hiển hách chăng? Mà giám mã sẽ là người có diễm phúc được mục kích! Qua đó, ta thấy Đôn Ki-hô-tê vẫn kiêu hùng, tự tin, đầu óc ông ta quá mê muội, khoác lác đến cực độ!

Nét “anh hùng” của Đôn Ki-hô-tê còn được thể hiện khi giám mã “thật thà” nhắc lại sự thất trận vừa qua, cái ngã chắc hẳn làm ngài vẹo sang một bên thì chàng hiệp sĩ hồn nhiên trả lời: Đúng thế! Và ta không kêu đau là vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thể nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài. Khi Xan-chô tâm sự là nếu có bị gai đâm cũng kêu thì ông chủ tài ba đã không nhịn được cười, đĩnh đạc nói với giám mã cứ việc rên la vì cho tới nay chưa thấy sách kiếm hiệp nào ngăn cấm cả.

Lại nói đến chuyện ăn ngủ của hai thầy trò chàng hiệp sĩ. Hai thầy trò cùng đi giang hồ, với “lý tưởng” dẹp bất công, cứu nguy phò đời nhưng trong tâm hồn, tính cách là hai thế giới riêng biệt! Đến giờ ăn, chẳng hiểu vì sao mà hiệp sĩ chưa cần ăn. Còn Xan-chô, sau khi được phép của chủ, ngồi thoải mái trên lưng lừa ung dung đánh chén, tu bầu rượu một cách ngon lành. Xan-chô vừa nhắm rượu đã quên cả những lời hứa hẹn của chủ phong cho anh ta làm thống đốc sau này. Giám mã vui vẻ Suy ngẫm về cái nghề đi tìm kiếm chuyện phiêu lưu dù có nguy hiểm đến đâu, cũng chẳng vất vả. Đó là một nét vẽ hài hước về sự “cái miếng ăn gần, cái ước mơ xa” ở đời! Sau ăn là chuyện ngủ. Đêm đến, hai thầy trò nằm dưới gốc cây. Giám mã đã no say làm một giấc đến sáng. Trái lại, Đôn Ki-hô-tê thì suốt đêm thao thức. Chàng bẻ một cành khô lắp vào cán gãy làm thành ngọn giáo! Chàng trằn trọc thâu đêm vì thương nhớ người yêu Đuyn-xi-nê-a. Chiều qua đã nhịn, sáng nay không ăn, chẳng phải vì đau mà không ăn được mà là vì chàng đang sống trong mộng mị, vì chỉ nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi!

Xan-chô là nhân vật phụ, một nét vẽ bổ trợ, rất sống động, có giá trị làm nổi bật tính cách ngông cuồng, mụ mẫm, ôm ấp những mộng tưởng hão huyền của nhân vật chính. Mặt khác cũng thể hiện được một quan niệm sống chất phác, hồn nhiên, giản dị… của những người dân quê yêu đời, thiết thực.’

Cảnh đánh nhau với cối xay gió đã ghi lại được “chiến công hiển hách” của Đôn Ki-hô-tê, hiệp sĩ xứ Man-tra. Với thủ pháp trào lộng, phóng đại và tương phản đối lập trong kể chuyện để dựng cảnh, ta thấy hiện lên trang hiệp sĩ lỗi thời thời Trung cổ Tây Ban Nha. Phải chăng đằng sau “trận đánh” là nụ cười hóm hỉnh của Xéc-van-tét. Và sau nụ cười chế giễu đó, người đọc thầm nhận thấy nhà văn đã đề cao trong một chừng mực tình yêu tự do, bình đẳng, sống thiết thực, yêu đời… mang tính nhân văn.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 8 hay, ngắn nhất khác:

Các loạt bài lớp 8 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *