Mục lục

  • Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội hay nhất (dàn ý – 4 mẫu)
    • Dàn ý Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội
    • Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 1
    • Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 2
    • Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 3
    • Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 4

Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội hay nhất (dàn ý – 4 mẫu)

Đề bài: Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”.

Dàn ý Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Tản Đà- Giới thiệu sơ qua tác phẩm thông qua những nghệ thuật tiêu biểu để làm nổi bật lên cái ngông của Tản Đà.

2. Thân bài

* Hai câu đầu:- Câu thơ đầu tác giả dùng câu cảm thán: “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!” nói nên không gian trời thu với không khí buồn tẻ, lặng lẽ .- Tác giả tha thiết một cuộc sống mới khi phải thốt lên ở thực tại “Trần thế em nay chán nửa rồi”- Cách xưng hô “chị – em” nhún nhường nhưng cũng vẫn thể hiện cái ngông riêng.

* Bốn câu giữa:- Bày tỏ niềm khao khát, muốn thoát khỏi trần thế để đến một nơi đẹp, một nơi thanh cao, trong sáng; một nơi đầy gió và đầy ắp tiếng cười.- Niềm mong ước được có bạn, có bè có tri kỷ, thấu hiểu mình.- Đây là mong ước về một thế giới không tưởng của tác giả

* Hai câu cuối:- Cảnh tác giả trên cung trăng cùng chị Hằng đón tết trung thu- Tác giả thỏa mãn được ước muốn của bản thân

3. Kết bài

Khái quát giá trị nội dung nghệ thuật ,lời lẽ giọng điệu, cảm nhận của cá nhân về tác phẩm ….

Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 1

Tản Đà (1889-1939) tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu là một người đa tài ông làm thơ, làm văn và còn là một nhà viết kịch nổi tiếng của nước ta. Sở dĩ ông lấy bút danh là Tản Đà cũng là vì ông là một người yêu quê hương đất nước, ông muốn bút danh của mình gắn liền với quê hương, Tản Đà có nghĩa là sự gắn kết giữa núi Tản Viên và sông Đà của quê hương ông.

Ông nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa sáng tạo trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX. Ông viết những bài thơ lãng mạn với những ý tưởng rất ngông, đậm chất phóng khoáng, cá tính mạnh mẽ, ông cũng được đánh giá là người chuẩn bị cho sự nghiệp ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối liền giữa hai thời kì văn học cổ điển và hiện đại”. Thơ ông chủ yếu mang đậm màu sắc “ngông” tiêu biểu là bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”.

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” được ra đời vào năm 1916 in trong tập Khối tình con (1916). Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng nó chịu ảnh hưởng của phong cách thơ ông, thể thơ dù dưới hình thức là thơ cổ nhưng có những dấu hiệu mới mẻ, khác của cảm xúc.

Đó là lời tâm sự của tác giả ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ được giảm nhẹ đi phần nào tính trang trọng, nghiêm luật như trước. Trong ngôn từ cũng vậy sự giản dị cùng với khẩu ngữ tự nhiên đã làm nên cái sáng tạo, cái hay và nét riêng độc đáo cho bài thơ. Bài thơ tuy ngông nhưng vẫn mang giọng điệu nhẹ nhàng, pha thêm chút hóm hỉnh lãng mạn và cả thêm sự phóng túng ở bài thơ.

Ta bắt gặp một giọng điệu suồng sã ở ngay nhan đề của bài thơ, nói lêm cái ý muốn khác người, hay đó là một giấc mơ kì thú, có thêm phần ngông và tất nhiên có cả lãng mạn. Tác giả muốn làm thằng Cuội có nghĩa là muốn thoát khỏi thế giới trần tục và lên ở cùng cõi tiên.

Làm người thì họ muốn có những ước mơ như sống trong vinh hoa, hưởng lạc trọn đời nhưng còn tác giả tại sao ông lại muốn lên trời sống cũng trăng, sao? Ngay ở phần nhan đề chúng ta đã thấy rất riêng và hấp dẫn thì có lẽ nội dung của tác phẩm còn thú vị hơn nữa. Ở hai câu thơ đầu:

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi”

Lời thơ tuôn ra như một lời than thở, buồn chán muốn được tâm sự cùng ai đó của một người trần thế. Ta bắt gặp hai đại từ nhân xưng “chị”, “em” tác giả tự nhận mình là em nghe rất thân mật gần gũi như đã quen từ lâu, thật êm tai. Đến bốn câu tiếp theo đó là lời ước nguyện:

“Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

Có bầu, có bạn can chi tủi,

Cùng gió, cùng mây thế mới vui.

Ở bốn câu thơ này nếu xét về bố cục và đối xứng Đường thi thì đã phạm luật, không đúng với nội dung của hai câu thực, hai câu thực vốn là tả thực còn hai câu luận (suy luận và mở rộng), từ cặp câu chưa đối nhau trong ngôn từ và ngữ nghĩa. Nhưng ta vẫn thấy cái hay của bài thơ, từ ngữ sáng tạo, ngôn ngữ thơ phát triển tự nhiên ta thấy sự cách tân trong bài thơ này của Tản Đà.

Bốn câu thơ này nói về ước nguyện của tác giả và cầu xin ước mơ độc đáo của ông trở thành hiện thực. Đầu tiên ông hỏi dò xem đã có ai ở trên cung trăng hay là chưa. Sau đó ông tiếp cầu xin ngỏ lời muốn chị Hằng đưa mình lên cành đa chơi. Những hình ảnh trong thơ như “cung quế”, “cành đa”, đó là những nơi chỉ người tiên mới ở được và chỉ có ở trong tưởng tượng của người Việt ta hay thường nhắc tới câu chuyện cây đa chú cuội.

Ý thơ như là tác giả đang chìm đắm trong một giấc mơ đẹp. Và ở hai câu luận tác giả đã được thỏa lòng mong muốn của mình khi được bầu bạn với mây gió và cùng nhau chơi đùa trên cung trăng, thỏa lòng mong muốn “thế mới vui” như là tác giả đã quên đi hết nỗi buồn ở trần gian và được vui ở chốn tiên cảnh. Câu thơ mang cảm giảm hóm hỉnh, tinh nghịch khiến cho người đọc có cảm giác như đang phiêu lưu trên cung trăng cùng tác giả. Ở hai câu kết còn có sự bất ngờ vô cùng lớn:

“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,

Tựa nhau trông xuống thế gian cười”.

Trung thu là đêm hạnh phúc của mỗi gia đình, gia đình sum họp ngoài trời cùng nhau ngắm trăng, trăng đêm trung thu là sáng nhất mọi người cùng nhau vui vẻ trò chuyện. Vậy mà nhà thơ lại khác, nhà thơ đang ngồi trên cung trăng, tựa lưng vào chị Hằng rồi cùng nhau trông xuống thế gian, ngắm nơi trần thế mọi người đang vui vẻ nhưng tại sao nhà thơ lại cười, là tại vì ông vui nên cười hay còn ngụ ý khác?

Đúng vậy nhà thơ cười là đang cười chế giễu vì nhà thơ đang ở tầm cao nên có thể thấy hết mọi chuyện đáng cười, đang khinh ở trên đời, cũng có thể nhà thơ đang tự cười mình có cái ý tưởng ngông nghênh khác đời.

Qua bài thơ “Muốn làm thằng cuội” ta thấy rõ cái ngông của ông trong đó, và cũng thấy được nỗi chán ghét nơi trần thế của ông, ông muốn bỏ nơi đó thật xa, ông muốn được lên ở cõi tiên, ông du dương trong giấc mơ, tưởng tượng của mình để được lên trời cao làm bạn với mây gió. Ta cũng thấy được sự cách tân Đường thi ở bài này, ông đã góp một phần quan trọng trong giai đoạn cách tân đổi mới thơ ca hiện đại Việt Nam.

Xem thêm bài viết hay:  250 Đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ ôn thi THPT Quốc gia năm 2021

Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 2

Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu xuất hiện trên văn đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ với một cá tính độc đáo: một nhà thơ của sầu và mộng, ngông và đa tình. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội đã thể hiện rất rõ cá tính ấy của ông.

Bài thơ Muốn làm thằng Cuội in trong tập Khối tình con (1916). Mặc dù tác phẩm được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song người đọc sẽ thấy ở đây, dưới cái hình thức còn là của thơ cổ ấy những dấu hiệu mới mẻ của cảm xúc. Tâm sự của nhà thơ ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ có chiều hướng giảm nhẹ đi tính trang trọng, mực thước. Sự giản dị, trong sáng gần với khẩu ngữ tự nhiên làm nên nét duyên của bài thơ này.

Ngay từ nhan đề của bài thơ đã cho thấy một giọng điệu suồng sã, như là đã giải tỏa được một nhu cầu nói thật, thẳng thắn của nhà thơ và cũng lại cho thấy cái ngông nghênh, bất đắc chí: muốn ở đây như một nhu cầu bức xúc, chẳng cần giấu giếm, vòng vo. Nhưng muốn cái gì? Muốn làm cuội thì đích thực là muốn thoát lên trên rồi. ước vọng lên trên thơ mộng thế mà nói tựa như là muốn ăn, muốn uống, muốn ngủ… thật là thành thực!

Và, nếu muốn thoát tục, lên trên thì thiếu gì những hình mẫu tiên để ước sao cứ phải là thằng Cuội? Thằng chứ không phải chú – cũng là một kiểu nói ngông. Thế thì chính là thi sĩ đa tình này muốn lên cung trăng rồi!

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,

Trần thế em nay chán nửa rồi!

Chị Hằng thì phải ở cung trăng chứ còn gì nữa! Thì ra thi sĩ của chúng ta muốn làm thằng Cuội để tâm sự cùng chị Hằng Nga xinh đẹp. Hai câu mở đầu bài thơ như một tiếng kêu than. Chẳng cần phải mượn cái khác để diễn tả nỗi buồn trong lòng mình, thi sĩ bộc bạch ngay nỗi lòng mình. Hai chữ buồn lắm thật chân thành.

Thi sĩ chỉ lòng mình ra trong tiếng gọi tha thiết. Ta thường gặp trong thơ Tản Đà một vẻ buồn chán, cái buồn lan trùm tất cả. Vì buồn lắm như thế nên thi sĩ mới “muốn làm thằng Cuội . Nhưng không phải là cái buồn vô cớ, càng không phải kiếm cớ buồn đẽ được lên tiên. Cái buồn ở đây là cái buồn đời, buồn chán cuộc đời tối tăm, đen bạc, đảo điên.

Không ít lần Tản Đà kêu chán đời: “Đời đáng trách biết thôi là đủ – Sự chán đời xin nhủ lại tri âm”, “Gió gió mưa mưa đã chán phèo – Sự đời nghĩ đến lại buồn teo”… Sống trong bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến những năm đầu thế kỉ XX, chẳng phải chỉ riêng Tản Đà buồn chán.

Không khí tù hãm, u uất của một dân tộc bị mất nước bao trùm hết thảy, đè nặng tâm trí con người, nhất lại là những con người nhạy cảm như thi nhân. Tâm trạng buồn chán là tâm trạng của thời đại. Có trăm ngàn vẻ buồn khác nhau song đều thấy điểm chung là sự bế tắc trước thực tại cuộc đời, từ đó mà sinh ra chán nản, bất mãn đối với thời cuộc.

Cái buồn của Tản Đà cũng bắt nguồn từ đấy. Và thế là thi sĩ tìm lối thoát bằng cách thoát li khỏi cuộc đời, sống trong một thế giới khác, thế giới mộng mơ, thần tiên. Thi nhân gọi trăng là chị, xưng với trăng là em thì vừa là muốn thân tình, gần gũi để giãi bày, vừa là chơi ngông. Bốn câu thơ tiếp càng thể hiện cái ngông của Tản Đà:

Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

Cành đa xin chị nhắc lên chơi

Ngông thực chất là một thái độ ứng xử đối với cuộc đời, một biểu hiện khác của sự chán ngán, bất mãn với thời cuộc. Phải là người yêu đời lắm, tha thiết với cuộc sống lắm thì mới tỏ ra buồn chán đến bất hòa trước cuộc đời đang rối ren, đen tối như thế. Câu 3 của bài thơ là lời ướm hỏi, rồi đến câu 4 là lời đề nghị. Nếu Cung quế chưa có ai thì chị cũng buồn, cũng cô đơn lắm nên hãy để em lên chơi cùng, em đỡ buồn mà chị cũng bớt cô đơn. Tính từ đây mà cũng ngang tàng đấy! Xin chị đừng từ chối nhé, bởi vì em có lí lẽ đây này:

Có bầu có bạn, cùng tri kỷ

Cùng gió cùng mây, thế mới vui.

Cái lí của thi nhân thật là thuyết phục. Song trong sự thuyết phục để thoát li, xa lánh trần thế ấy chúng ta thấy một thực trạng buồn vắng, cô đơn của tâm hồn thi sĩ. Vốn đa tình đa cảm nên thi nhân luôn luôn có khát vọng được người tri kỉ, mà cõi trần thì “Chung quanh những đá cùng cây; Biết người tri kỉ nơi đâu mà tìm”.

Cái vui của thi nhân là cái vui được tâm giao, tâm đồng. Gió, mây thơ mộng được không nếu chẳng có bầu có bạn”. Khát vọng lên trên, lánh đời ở đây thực ra là một cách bộc lộ khao khát đồng cảm, tri âm trong cuộc đời của Tản Đà. Và cái cách ở đây là ngông. Chưa hết, thi nhân còn vẽ ra viễn cảnh:

Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám

Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Lãng mạn hết mức, tưởng tượng ra cảnh “tựa nhau” cùng chị Hằng thì quả là cái ngông đã đến đỉnh điểm. Tác giả hạ chữ cười ở cuối bài thật đắt. Cười ở đây chứng tỏ cái hả hê thỏa mãn khi trong ước vọng được thoát tục, rồi bỏ được trần ai mà lên tiên. Cười còn là thái độ mỉa mai, khinh khi cái cuộc đời đang đầy những sầu khổ, cô đơn dưới kia. Cười thách thức. Cười ngông.

Bài thơ tuân thủ khuôn mẫu của một bài thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển. Nhưng nguồn cảm xúc tự nhiên, không chừng bay bổng đã tự tìm đến những lời thơ tựa như lời nói hàng ngày: “buồn lắm chị Hằng ơi”, “em nay chán nửa rồi”, “đã ai ngồi đây chưa”, “xin chị nhắc lên chơi”, “thế mới vui”, “tựa nhau trông xuống thế gian cười”; xưng hô khẩu ngữ (chị – em) tự nhiên, không đẽo gọt cầu kì và ngữ điệu biểu hiện đa dạng (ơi, rồi, đó chửa, xin, thế mới). Lên tiên, thoát tục là thi đề quen thuộc trong thơ cổ, ở đây cái không mới ấy đã được làm mới bằng giọng điệu, bằng lời thơ.

Cái ngông của Tản Đà trong bài thơ này là một hình thức ứng xử vốn nằm trong cốt cách của nhà nho tài tử trong thơ truyền thống. Song, như chúng ta đã thấy, cái ngông ấy lại là thái độ của Tản Đà đối với xã hội ta những năm đầu thế kỉ XX, bộc lộ một nguồn xúc cảm mới, đầy cá tính đa tình, phóng túng. Cái mơ mộng thành ra cái ngông thì quả là đậm chất riêng của Tản Đà.

Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 3

Tản Đà (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, là một trong số những nhà thơ nổi bật những năm đầu thế kỷ XX, được xem là dấu “gạch nối hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”, đặt nền tảng cho sự ra đời của nền thơ Mới giai đoạn 1932-1941. Với sức sáng tạo dồi dào và mạnh mẽ và số lượng tác phẩm khá đồ sộ, tuy nhiên cuộc đời của Tản Đà cũng như nhiều những bậc trí thức nghèo lúc bấy giờ. Rơi vào cảnh tài năng không được công nhận, thơ văn rẻ rúng như bèo, phải sống giữa một xã hội rối ren, nhiều những bất công ngang trái, Tây Tàu ta lẫn lộn, sự đảo lộn các giá trị, đồng tiền trở thành thứ thao túng con người khiến nhiều người sầu khổ, bất đắc chí. Chính vì vậy trong nghiệp sáng tác của mình, ông tập trung vào việc thể hiện khát vọng được thoát ly khỏi chốn trần gian khổ hạnh, để tìm đến cõi tiên, cõi phật, lắm mộng mơ, với thú vui thưởng rượu, làm thơ tao nhã, không vướng bận hồng trần nhằm xua đi những điều chán trường trong cuộc đời. Và trong những bài thơ như vậy độc giả cảm nhận được rất rõ “cái tôi” độc đáo trong sáng tác của Tản Đà ấy là cái ngông nghênh phớt đời, cái mơ mộng đa tình và cả cái sầu não, thương cảm. Bài thơ Muốn làm thằng cuội là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Đà, thể hiện một cách đầy đủ và thực đặc sắc cả ba “cái tôi” ấy của tác giả.

Xem thêm bài viết hay:  Trình bày quan điểm về việc giữ gìn tiếng mẹ đẻ và học tập tiếng nước ngoài hay nhất

Trước hết nói về cái sầu não, thương cảm của Tản Đà trong Muốn làm thằng Cuội, ta có thể thấy rất rõ trong hai câu thơ đầu tiên của tác phẩm.

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơiTrần thế em nay chán nửa rồi”

Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, tự nhiên, trong sáng và gần gũi trong lối xưng hô “chị-em”. Hai từ “buồn lắm” đã thể hiện một cách trực tiếp và hàm súc tâm trạng của tác giả trong lúc thưởng trăng, hẳn rằng phải chán nản, phiền não lắm thế nên người thi sĩ khi nhìn trăng, một vật thể chan chứa nhiều xúc cảm tươi vui, mới có thể thốt ra những lời thở than, chất chứa nhiều tâm trạng như thế. Vậy nguyên do nào khiến cho thi sĩ mang một nỗi buồn bàng bạc, quẩn quanh như thế, phải chăng là do trời đã vào thu, gió heo may hiu quạnh thường dẫn người ta đến cảm xúc bâng khuâng, da diết chăng? Có lẽ đó cũng là một phần nỗi buồn của người thi sĩ, thế nhưng đối với Tản Đà nỗi buồn lớn nhất mà ông mang suốt cả cuộc đời và trải dài trong hầu hết các tác phẩm, ấy là nỗi sầu nhân thế. Ông viết “Trần thế em đây chán nửa rồi”, một người còn đang sống tại thế gian, nhưng lại đã chán đến nửa cuộc đời ở nơi đây quả thực là có nhiều điều khiến độc giả phải suy ngẫm. Xét lại về bối cảnh đương thời trong cuộc đời của Tản Đà, ta mới nhận ra vì sau tác giả lại sầu não đến vậy. Một nhà nho chân chính, thế nhưng lại sống đúng vào lúc nước mất vào tay giặc, xã hội nhiễu nhương, Hán học suy tàn, các bậc văn nhân nghĩa sĩ chẳng còn đất dụng tài, đành chịu bó gối câm lặng quay về sống cuộc đời âm thầm đầy xót xa. Những thứ thơ văn vốn từng được ngợi ca, xem trọng giờ đây rẻ như bèo, chẳng mấy ai còn quan tâm, cuộc đời người nghệ sĩ tài năng bỗng rơi vào cảnh khốn khó, cơm áo gạo tiền bao nhiêu thứ phải lo toan. Cùng với thực cảnh nước mất nhà tan, đầy đớn đau của dân tộc đã đẩy Tản Đà và nhiều bậc trí thức cũ rơi vào cảnh bế tắc, tối tăm. Phải nói rằng, sống một cuộc đời bất đắc chí, muốn mà lực bất tòng tâm thì thực đau khổ và sầu não. Thế nên bản thân Tản Đà vì quá thấm thía những nỗi đau đời, đau mình mà lao vào rượu chè, sáng tác để quên sầu, thế nhưng nỗi sầu, nỗi buồn đời ấy chẳng một lúc nào chịu rời khỏi thơ văn của ông. Người muốn thoát ly đến một cõi khác tốt đẹp hơn để thoát khỏi chốn trần gian khổ ải, nhưng biết rằng đó là không thể, nên chỏ đành bày tỏ trong văn thơ.

Nói về cái ngông nghênh, ngạo nghễ hay nói gọn lại là một chữ “ngông” trong sáng tác của Tản Đà thì ngay từ trong cái nhan đề “Muốn làm thằng cuội” của tác phẩm, đã đủ nói lên cái tính chất ấy của tác giả. Một người trần mắt thịt ấy thế mà lại có cái ước muốn thực ghê gớm, ước được lên cung trăng, làm thằng Cuội ngày ngày bầu bạn với Hằng Nga tiên tử, lại thân thiết, đa tình gọi chị xưng em, đó không phải là ngông thì còn là gì nữa. Đặc biệt trong bài thơ, cái “ngông” của Tản Đà được thể hiện khá rõ trong bốn câu thơ sau:

“Cung quế đã ai ngồi đó chửaCành đa xin chị nhắc lên chơiCó bầu có bạn can chi tủiCùng gió, cùng mây thế mới vui”

Cái ngông của Tản Đà trước hết là thể hiện ở cái khao khát mộng tưởng được giao lưu, trò chuyện với những con người ở chốn thần tiên, thậm chí trong bài thơ Hầu trời, bản thân ông còn tự nhận mình vốn là một trích tiên, bị đày xuống hạ giới vì tội “ngông”. Thì ở trong Muốn làm thằng Cuội, Tản Đà đã dùng một lối nói rất tự nhiên có chút hóm hỉnh đùa vui khi hỏi ướm rằng “Cung quế đã ai ngồi đó chửa”, sau đó táo bạo hơn là ngỏ ý xin chị Hằng dùng cành đã “nhắc lên chơi” chốn cung trăng. Đặc biệt ông không hề ngần ngại mà thể hiện hẳn tư thái rất tự tin, cho rằng chị Hằng trên cung trăng có lẽ cũng buồn chán, chi bằng để bản thân mình lên đó trò chuyện, bầu bạn cho đỡ phần cô đơn, lẻ chiếc. Điều này cũng bộc lộ nỗi cô đơn, lẻ loi của Tản Đà giữa cuộc đời, khi bản thân ông không có lấy nổi một người thấu hiểu, tâm tình mà buộc phải tìm lên tận cõi khác, tận cung trăng để tìm được người tri kỷ kề cận, giải tỏa hết những nỗi sầu chất chứa. Thêm vào đó, trong suy nghĩ của Tản Đà, việc sống ở nhân gian chẳng có gì thú vị, thay vào đó ông lại ấn tượng và hứng thú với cảnh sống cùng mây và gió, cho rằng cuộc đời được vậy mới là vui, mới là cái thú khác biệt. Như vậy cái “ngông” của Tản Đà thể hiện ở lối tư duy khác biệt, táo bạo, có phần điên cuồng khi ao ước những thứ vô vọng, không nằm trong tầm tay. Mà cốt cái “ngông” đó cũng xuất phát từ những nỗi chán chường, buồn rầu và bất đắc chí ở cuộc đời, việc khao khát tìm được một thế giới lý tưởng khác ví dụ như thiên cung, hay cung trăng, những con người khác đại diện cho một xã hội tốt đẹp và trong sạch ví như chị Hằng, Trời, chư vị thần tiên, tiên đồng ngọc nữ,… cũng nhằm thể hiện cái nỗi đau và sự bế tắc của một con người trần thế trước thực cảnh xã hội quá thối nát và cuộc đời cá nhân tối tăm, bức bối. Như vậy cái “ngông” của Tản Đà trở thành một cái “ngông” hợp lý và đầy sức sáng tạo khi nhà thơ đã tự tìm được một giải pháp để giải phóng tâm hồn mình thoát khỏi cảnh tối tăm, buồn khổ nơi trần thế.

Cuối cùng nói về cái mộng ước tươi đẹp trong thơ của Tản Đà, ta có thể nhận thấy rõ trong hai câu thơ cuối bài.

“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng támTựa nhau trông xuống thế gian cười”.

Đến đây cái “ngông” được đẩy lên cao nhất cùng với một hình ảnh tưởng tượng độc đáo và thú vị đã đem đến cho độc giả nhiều suy tưởng, đồng thời cũng ẩn chứa nhiều những nỗi lòng của tác giả. Tản Đà đã dẫn ra một mộng tưởng thật tuyệt vời rằng bản thân mình yên vị có một cuộc sống thảnh thơi trên cung trăng, và cứ như thường lệ vào mỗi năm rằm tháng tám, bản thân lại được tựa vai, bầu bạn với chị Hằng cùng trông xuống thế gian. Trước hết ở đây cái mộng nằm ở việc tác giả hoàn toàn thoát khỏi cuộc sống trần thế, thoát khỏi cái thế gian lắm bụi bặm, nhơ nhuốc, hoàn thành thành được khát vọng thoát ly mãnh liệt, điều ấy khiến Tản Đà cười một cách mãn nguyện. Thêm nữa cái cười của Tản Đà, còn là điệu cười ý vị, khinh bỉ khi nhìn xuống thế gian, trong khi những kẻ phàm phu tục tử chỉ mãi được ngước nhìn ánh trăng, thì bản thân mình lại được ăn trên ngồi trước, bên cạnh là chị Hằng xinh đẹp cùng ngắm nhìn thiên hạ đảo điên, vật lộn giữa bao nhiêu những rối ren bận thỉu, còn bản thân Tản Đà lại thảnh thơi, vui thú sống một cuộc đời hoàn toàn tự do, tự tại, vô lo vô nghĩ. Có thể nói rằng cái mộng của Tản Đà là một cái mộng tưởng rất đẹp, rất lãng mạn, và có lẽ rằng nó cũng là mộng tưởng của đa số những kẻ thi sĩ khổ sở, bất đắc chí lúc bấy giờ. Chỉ có điều rằng, Tản Đà “ngông” hơn, dám nghĩ và dám viết hẳn ra như thế, rồi cuối cùng biến nó thành một cái mộng tưởng vừa đẹp vừa ngông cuồng tột bậc, khiến người đời sau vừa thấu hiểu vừa xót xa cho một cuộc đời nhiều khổ ải, bất đắc chí.

Xem thêm bài viết hay:  Bài văn Tả trận thi đấu thể thao ở trường em hay nhất – Văn mẫu lớp 6

Muốn làm thằng cuội là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất trong sự nghiệp sáng tác phong phú và đồ sộ của Tản Đà. Bằng một giọng thơ nhẹ nhàng, hôn nhiên, trong sáng có phần ngông cuồng với những ý tưởng táo bạo, tác giả đã bộc lộ một cách thầm kín, sâu xa những nỗi buồn quẩn quanh suốt đời người trí thức trong chế độ cũ, với nỗi đau nước mất nhà tan, văn chương rẻ rúng, cuộc sống người dân nghèo bị áp bức, bế tắc khó có thể tìm thấy lối giải thoát. Từ đó nhà thơ tự tìm cách giải thoát cho bản thân bằng những ước mộng phi thực tế trong thơ ca, để có thể tiếp tục tồn tại và đóng góp cho đời những tác phẩm văn chương đặc sắc

Phân tích cái Ngông của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội – mẫu 4

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương nên đã tạo ra một Tản Đà tài năng và mang phong cách văn chương khác biệt, đó là cái đa tình, ngông nghênh của một người nghệ sĩ tài hoa. Cái ngông của ông được thể hiện rõ trong bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”.

Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” viết vào năm 1916, được in trong tập thơ “Khối tình”. Muốn làm thằng Cuội được viết theo thể thơ cổ thất ngôn bát cú Đường luật nhưng bài thơ lại có những nét mới mẻ, sự phá cách mang đậm phong cách của tác giả.

Ngay từ câu đầu tiên tác giả đã bộc lộ tâm sự của mình về nỗi buồn không biết nói với ai, chỉ biết nói chính mình và nói với trời cao thôi.

“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !Trần thế em nay chán nửa rồi.”

Mùa thu là mùa ánh trăng sáng nhất, trăng thu chiếu rọi khắp không gian vốn một cảnh đẹp nhưng khi thưởng ngắm mĩ cảnh ấy, tác giả lại cảm thấy buồn và trĩu nặng những suy tư. Từ “buồn” và “chán” trong hai câu thơ trên đã nói lên được sự cô đơn của tác giả cũng như sự chán ghét cuộc sống nơi trần thế ngột ngạt và bế tắc. Nhà thơ muốn thoát khỏi thực tại, muốn làm một anh Cuội sống vô lo, vô nghĩ. Xã hội lúc đó thối nát, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi ấy, ánh sáng của cách mạng chưa tới được những người tri thức như Tản Đà, lúc đó các nhà thơ nhà văn chưa tìm được hướng đi riêng cho mình nên thường mang tâm trạng chán chường, lạc lõng giữa trần gian. Tản Đà muốn thoát khỏi trần thế này, ông muốn rời khỏi trần gian muốn lên cung trăng bầu bạn với chị Hằng cho thấy được cái ngông cuồng, cá tính mạnh mẽ, táo bạo của ông. Nhà thơ muốn thoát khỏi cuộc sống bế tắc này muối đi đến một thế giới mới- thế giới của thần tiên, nơi không có những bất công, thối nát của hiện thực xã hội đương thời.

Hai câu thơ tiếp thể hiện tiếp cái ngông của tác giả.

“Cung quế đã ai ngồi đó chưa?Cành đa xin chị nhắc lên chơi”

Là một người yêu đời, yêu cuộc sống nên tác giả muốn thoát ly khỏi cuộc sống hiện tại. Câu hỏi “Cung quế đã ai đó ngồi chưa?” thể hiện ước muốn đó, hỏi chị Hằng sống một mình trên cung trăng có buồn, có cô đơn không hay câu thơ “Cành đa xin chị nhắc lên chơi” đã thể hiện mong muốn tột cùng- thoát khỏi cuộc sống hiện tại, thoát khỏi xã hội thối nát, gò bó.

Hai câu thơ tiếp theo là khao khát được lên cung trăng cùng chị Hằng bầu bạn.

“Có bầu có bạn, cùng chi kỷCùng gió cùng mây, thế mới vui”

Điệp từ “có” và “cùng” thể hiện ước muốn có bạn có bè, cùng làm cùng chung sống, cùng bàn luận về thơ ca, cùng ngao du khắp nơi giống như những người bạn tri kỷ nhưng ở trần thế ông không thể tìm được người bạn như thế. Hiện thực trần gian là những giọt nước mắt đau khổ, là những bất công trái luân thường đạo lý nên Tản Đà muốn lên cung trăng tận hưởng được bầu không khí của sự tự do, được cùng gió cùng mây ngao du khám phá mọi nơi, tránh xa trần thế thoát khỏi chốn ngục tù. Từ khát khao có phần ngông nghênh, có phần vô lí ấy, người đọc cảm thông được với những nỗi niềm, những suy tư trần thế đầy trĩu nặng của ông .

Cái ngông của Tản Đà không phải ngông của sự ngạo mạn, vô lý mà là ước muốn từ tận sâu của con người của ông. Hai câu thơ cuối tác giả muốn được sống cả đời trên cung trăng để được sống cuộc sống thần tiên.

“Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,Tựa nhau trông xuống thế gian cười.”

Tác giả đã tưởng tượng ra bối cảnh mình cùng chị Hằng cùng nhau bầy bạn, cùng trông nhìn thế gian. Đến đây, cái ngông đã lên mức đỉnh điểm bởi tác giả không xưng hô chị em nữa mà thay vào ông coi chị Hằng như một người bạn tri kỷ. “Trông xuống” ở đây chính là cung trăng, nơi Tản Đà cùng chị Hằng kết bạn và buông bỏ những vướng bận, uư tư nơi trần thế. Từ “cười” ở đây thể hiện sự thỏa mãn của tác giả, tiếng cười ấy thật sảng sự viên mãn làm sao. Tiếng cười đa thanh ấy còn là sự khinh bỉ của cuộc sống nơi trần thế tối tăm ngột ngạt nơi không có ánh tráng của chân lý của tình thương nó là nơi của sự áp bức của ách thống trị của chế độ nửa phong kiến nửa thực dân hà khắc.

Viết theo thể thơ cổ nhưng tác giả đã viết nó theo phong cách hoàn toàn khác, vẫn mang nét cổ điển, tuân thủ niêm, luật đấy nhưng cũng có sự sáng tạo của riêng của Tản Đà nên bài thơ mang một sắc thái hiện đại, mới lạ.

“Được làm thằng Cuội” được viết trong khoảng thời gian mà đất nước đang khó khăn, nhân dân lầm than chịu sự áp bức bóc lột triều đình phong kiến. Bài thơ thể hiện sự thương xót của tác cũng là mong muốn được thoát khỏi thế giới này, bộc lộ cái ngông nghênh tài hoa cùng khát vọng thành thực của người thi sĩ.

Qua bài thơ, ta thấy được cá tính mạnh mẽ cùng chất “ngông” đầy ấn tượng của Tản Đà. Muốn làm thằng Cuội không chỉ bộc lộ những khát vọng táo bạo của Tản Đà mà còn hé lộ những tâm sự thầm kín và tấm lòng đẹp của người thi sĩ luôn trăn trở với cuộc sống, với thực tại.

Xem thêm các bài Văn mẫu thuyết minh, phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 8 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

muon-lam-thang-cuoi.jsp

Các loạt bài lớp 8 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *