Mục lục

  • Phân tích đoạn trích Hai cây phong hay nhất (dàn ý – 3 mẫu)
    • Dàn ý Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp
    • Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp – mẫu 1
    • Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp – mẫu 2
    • Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp – mẫu 3

Phân tích đoạn trích Hai cây phong hay nhất (dàn ý – 3 mẫu)

Đề bài: Phân tích đoạn trích “Hai cây phong” (trích “Người thầy đầu tiên”) của Ai-ma-tốp.

Bài giảng: Hai cây phong – Cô Phạm Lan Anh (Giáo viên )

Dàn ý Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp

I. Mở bài: Khái quát về tác giả, tác phẩm

– Ông là nhà văn Cư- rơ-gư-xtan, ông được trao giải thưởng với 3 tác phẩm : Người thầy đầu tiên; Cây phong non trùm khăn đỏ; Mắt lạc đà

– Văn bản Hai cây phong là phần đầu của truyện Người thầy đầu tiên, đây là đoạn trích ca ngợi tình cảm thiêng liêng, đó là tình yêu quê hương xứ sở, đồng thời là bài ca về người thầy chân chính

II. Thân bài: phân tích Hai cây phong

* Hình ảnh hai cây phong

– Hai cây phong nằm ở trên đồi như ngon hải đăng trên núi

– Ai đến làng cũng đều thấy chúng trước tiên ⇒ Là dấu hiệu để nhận ra làng

⇒ Phép so sánh chỉ giá trị tín nhiệm của hai cây phong. Khẳng định giá trị không thể thiếu đối với những người đi xa, thể hiện niềm tự hào về hai cây phong

– Hai cây phong ấy cũng có tiếng nói riêng, tâm hồn riêng: tiếng rì rào nhiều cung bậc khác nhau

– Hai cây phong gắn bó với sự sống, với con người: nơi giúp bọn trẻ thấy một “ thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng”, nhìn ra vẻ đẹp mới và khơi gợi khát vọng khám phá miền đất lạ.

– Hai cây phong là nhân chứng cho hành động và tình cảm của thầy Đuy-sen.

– Cảnh trèo lên hai cây phong cho ta thấy đây là nơi hội tụ niềm vui, mở rộng chân trời hiểu biết, nơi khắc ghi những biến cố của làng

⇒ Bằng cách kể, miêu tả, nhân hóa so sánh cho thấy sức sống mãnh liệt của hai cây phong, biểu tượng cho con người thảo nguyên

* Hình ảnh con người

– Nhân vật “tôi” có tình cảm đặc biệt, yêu mến hai cây phong

– Có một nỗi nhớ mãnh liệt với hai cây phong

– Có trí tưởng tượng rất phong phú, tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và làng quê

⇒ Con người đã khắc họa lên một bức tranh thiên nhiên đậm chất hội họa được khám phá từ điểm nhìn trên hai cây phong- là những kỉ niệm tuổi thơ cho tình yêu yêu quê hương của những đứa trẻ

– Hai cây phong gắn với câu chuyện về thầy Đuyn-sen đã vun trồng ước mơ hi vọng cho những người học trò nghèo: Thầy đã trồng 2 cây phong với hi vọng các thế hệ trẻ được học hành, có khát vọng lớn và trở thành người hữu ích

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung làm nên thành công của đoạn trích

– Hai cây phong là biểu tượng của tình yêu quê hương sâu nặng gắn liền với những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ của người họa sĩ làng Ku- ku-rêu.

Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp – mẫu 1

Ai-ma-tốp là nhà văn nước Cộng hòa Cư-rơ-gư-xtan, một nước cộng hoà ờ vùng Trung Á, thuộc Liên Xô trước đây. Chủ đề chính trong các tác phẩm của ông thường là những con người với cuộc sống khắc nghiệt, khó khăn nhưng ẩn chứa trong đó là chất lãng mạn đến từ những tình cảm đáng quý, chân thành như tình bạn, tình thân rồi tình yêu. Các tác phẩm của ông luôn hướng tới lòng nhiệt huyết của thanh niên đặc biệt là các nữ thanh niên, thúc đẩy tinh thần đấu tranh, vượt qua những hy sinh mất mát trong chiến tranh để thoát khỏi sự ràng buộc của những hủ tục lạc hậu áp đặt lên nữ giới và trẻ em. Đoạn trích Hai cây phong được trích trong tác phẩm Người thầy đầu tiên, với ngòi bút sinh động đậm chất hội họa, hai cây phong đã được miêu tả một cách tinh tế và rõ nét, mà qua đó ta thấy hiện lên tình yêu quê hương tha thiết và tình cảm xúc động đặc biệt về một người thầy đã dành cả cuộc đời để ươm mầm ước mơ, hi vọng cho những học trò của mình – thầy Đuy-sen.

Về ngôi kể câu chuyện được kể theo ngôi thứ nhất, tác giả xưng “tôi” trong những cảm nhận chủ quan của mình về hai cây phong, và đây là ngôi kể quan trọng nhất thể hiện được hết những giá trị tư tưởng và biểu cảm của đoạn trích. Đến phần hồi tưởng về ký ức thuở ấu thơ nhiều năm về trước, ngôi kể đó có sự thay đổi từ “tôi” sang “chúng tôi”, như vậy “chúng tôi” ở đây là đại diện cho những đứa trẻ có cùng những kỷ niệm tươi đẹp với hai cây phong, góp phần làm cho đoạn trích thêm phần linh hoạt và sinh động hơn cả. Trước hết nói về vị trí của hai cây phong, hai cây phong ấy nằm ở làng Ku-ku-rêu ven chân núi, trên một cao nguyên rộng, phía dưới chính là thung lũng đất vàng và cánh thảo nguyên Ca-dắc-xtan. Có thể thấy rằng bằng đôi mắt và chất hội họa trong mình tác giả đã đem đến một không gian vô cùng kháng đạt và rộng lớn để làm nền cho hai cây phong xuất hiện và đó cũng là hiện thực bối cảnh của một làng quê nghèo hẻo lánh của vùng Cư-rơ-gư-xtan đầy hoài niệm.

Trong đôi mắt người nghệ sĩ hình tượng hai cây phong trước hết hiện lên với một vẻ khái quát “Phía trên làng tôi, trên ngọn đồi, có hai cây phong lớn”, sau đó tác mới đi vào miêu tả chi tiết hai cây phong bằng hình ảnh so sánh độc đáo “chúng luôn hiện ra trước mắt giống như những ngọn hải đăng trên núi”. Nhân vật chính vẫn luôn trân trọng, nâng niu những ấn tượng thuở thơ ấu, xem hai cây phong như là những thứ thân thuộc nhất. Mà để đến khi đã trưởng thành đã qua phía bên kia dốc cuộc đời, ông vẫn giữ một thói quen nhìn về phía hai cây thông cao lớn như một “bổn phận”. Trong lòng của nhân vật “tôi” có lẽ hai cây phong chẳng đơn thuần là một loài cây mà hơn thế nữa nó đã trở thành một cái gì đó rất gắn bó rất yêu thương, trong mắt tác giả hai cây phong ấy cũng “có tiếng nói riêng và hẳn phải có tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu”.

Nhân vật chính nói vậy bởi những cảm nhận về sự lay động của hai cây phong trong tiềm thức “dù ngày hay đêm chúng vẫn nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau”. Thậm chí trong sự tưởng tượng của nhân vật “tôi” cây phong còn ấp ủ trong mình những cảm xúc, những rung động mãnh liệt như một con người có linh hồn có tình cảm, lúc thì như làn sóng thủy triều vỗ vào bãi cát, lúc lại dịu dàng thiết tha, nồng thắm. Và cũng có những lúc bản thân hai cây phong “im bặt một thoáng, “cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào”, rồi cũng có những khi cây phong phải gánh chịu những biến cố lớn trong cuộc đời, buộc chúng phải mạnh mẽ vượt qua, những “bão giông, xô gãy cành, tỉa trụi lá”, khắc nghiệt đến thế nhưng chúng vẫn “dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực”.

Chính điều ấy đã để lại trong lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc về hai cây phong sinh đôi có linh tính, cảm xúc và sức sống bền bỉ dẻo dai là nguồn động lực cho con người vượt qua mọi khó khăn trắc trở. Có thể nói tình cảm của nhân vật chính với hai cây phong thuở ấu thơ đã để lại trong tâm hồn tác giả những dấu ấn sâu đậm khó có thể phai mờ. Đến khi đã trưởng thành, từng nhiều lần đi về chốn quê hương, qua nhiều trải nghiệm, tác giả cũng thấu hiểu “điều bí ẩn” của hai cây phong, nhưng ông vẫn trân trọng và nâng niu những cảm nhận, những giá trị mà ông từng nghĩ về hai cây phong thuở ấu thơ, bởi đó là những hồi ức tốt đẹp nhất mà ông từng có ở vùng quê nghèo khó, “tuổi trẻ của tôi đã ở lại nơi ấy”,…

Xem thêm bài viết hay:  Top 3 bài Phân tích hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) hay nhất

Sau những cảm nhận cá nhân về hai cây phong, thì nhân vật “tôi” còn có những cảm nhận, ký ức chung với những người bạn thuở thơ ấu, đó là những cuộc vui bất tận, sôi động gắn liền với hình bóng hai cây phong. Những lần lũ trẻ phá tổ chim, reo hò, huýt còi ầm ĩ, thì hai cây phong dường như cũng vui mừng “như muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu dàng”. Hai cây thông cũng trở thành pháo đài, căn cứ của lũ trẻ, hay kỳ thú hơn là một vọng gác ngắm cảnh, mà ở đó chúng cảm thấy như có một phép thần thông mở ra một thế giới đẹp đẽ vô ngần trước mắt lũ trẻ có cuộc sống cơ cực, vất vả.

Bởi thế giới ấy chỉ đơn giản là chuồng ngựa của nông trang mà lũ trẻ xem là tòa nhà rộng lớn nhất thế giới, giờ đây khi ở trên hai cây phong cũng chỉ như một căn gác xép bình thường. Điều ấy trở thành bước đệm để mở ra trong lũ trẻ một thế giới mới rộng lớn hơn, bao la hơn vượt ra khỏi ngôi làng bé nhỏ, thảo nguyên rộng lớn, những vùng đất chưa biết tên, con sông chưa từng nghe nói. Từ những băn khoăn những thắc mắc về những thứ lạ lẫm ấy đã mở ra trong tâm hồn lũ trẻ những ước mơ, những khao khát khám phá, khao khát vượt ra khỏi ngôi làng nhỏ bé đến với những vùng đất rộng lớn hơn,… Rồi kết lại chỉ có một điều mà nhân vật chính chưa từng nghĩ đến rằng ai đã trồng hai cây phong này, ai là người đã gián tiếp khơi gợi trong ông niềm hy vọng, ước mơ về một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, về khao khát cháy bỏng thay đổi cuộc đời.

Đoạn trích Hai cây phong đã đem đến cho độc giả những cảm xúc đặc biệt về tình cảm gắn bó với quê hương thông qua hình ảnh hai cây phong độc đáo, được miêu tả với bút pháp hội họa đậm chất lãng mạn, hoài niệm. Từ đó mở ra câu chuyện về thầy Đuy-sen và cô bé An-tư-nai, câu chuyện về cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ để giành lấy sự công bằng trong cuộc sống, về sự nỗ lực thoát khỏi ràng buộc của những hủ tục lạc hậu đã đã gò ép cuộc đời của người phụ nữ và trẻ em ở miền quê nghèo khó.

Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp – mẫu 2

Trong số các nhà văn của đất nước Liên Xô cũ, có lẽ Tsin-ghi-dơ Ai-má-tốp là người gần gũi với người đọc Việt Nam nhất. Truyện của ông, từ Ja-mi-li-a,…, Vĩnh biệt Gưn-xa-rư, đến Ngày dài hơn thế kỷ đều có bóng dáng của quê hương Cư-rơ-gư-xtan, đều phản ánh phong tục tập quán, đấu tranh cho cuộc sống tiến bộ, đạo đức và tình cảm tốt đẹp của con người… Một trong những tình cảm khiến truyện của Ai-ma-tốp gần gũi với người đọc Việt Nam có lẽ là tình cảm thầy trò mà truyện ngắn Người thầy đầu tiên là truyện tiêu biểu.

Truyện ghi lại hoạt động của một đoàn viên thanh niên chấp hành sự điều động của tổ chức, dù học lực chưa được là bao, về xây dựng một ngôi trường ở nơi người dân chưa hề biết đến con chữ. Cô bé An-tư-nai mồ côi sống trong gia đình chú thím ở làng Ku-ku-rêu, chẳng được học hành, và phải chịu sự giám sát, sai khiến hà khắc của bà thím. Đuy-sen được Đoàn Thanh niên Cộng sản cử về làng để mở trường, đã kịp thời cứu giúp, cho em đến trường học. Một hôm, Đuy-sen mang về trường hai cây phong non và bảo em: “Hai cây phong này thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt… Em bây giờ trẻ măng như một thân cây non, như đôi cây phong nhỏ này…”.

Bà thím ác nghiệt ép gả bán An-tư-nai làm vợ lẽ cho người ta. Một lần nữa, An-tư-nai được thầy Đuy-sen giải thoát, được lên tỉnh học, rồi đến học tiếp ở Mát-xcơ-va, sau trở thành nữ viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Còn thầy Đuy-sen, bấy giờ đã già, làm nghề đưa thư…

Đoạn văn mà chúng ta phân tích nằm ở phần đầu của truyện ngắn. Phần truyện này được viết bằng hai mạch văn lồng ghép vào nhau. Một mạch văn mà nhân vật kể là “tôi” – nhân danh bản thân của mình giới thiệu ngôi làng, vị trí của hai cây phong và nêu cảm hiểu của mình về chúng. Mạch văn khác nhân danh “chúng tôi” – do nhân vật “tôi” nhớ và kể lại như là hồi ức về một quãng đời đã từng sống cùng hai cây phong ở trong làng.

Sau khi giới thiệu vị trí và đặc tính về địa lý của ngôi làng Ku-ku-rêu, nhân vật “tôi”, giờ đã là họa sĩ, giới thiệu hai cây phong: “Phía trên làng tôi, giữa một ngọn đồi, có hai cây phong lân. Tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình”. Ấy là giới thiệu vị trí của hai cây phong, và mốc thời gian mà nhân vật “tôi” nhận biết được hai cây phong ấy. Thật thú vị khi đọc câu văn “Tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình”. Thú vị là ở chỗ nó vừa chính xác vừa mơ hồ, đồng thời cũng là thông báo cho người đọc biết hai cây thông ấy xuất hiện ở làng trước khi nhân vật “tôi” nhận biết được sự có mặt của mình. Và nhân vật “tôi” nêu cảm nhận về vị ưí của hai cây phong lớn ấy. Đấy là một vị trí mà bất cứ ai đi từ hướng nào “cũng đều trông thấy hai cây phong đó trước tiên”, rồi so sánh chúng “nhưnhững ngọn hải đăng đặt trên núi”. Nếu biết “hải đăng” là ngọn đèn biển, thường dựng ở một mũi đất hoặc một hòn đảo để hướng dẫn tàu thuyền đi lại ngoài khơi hoặc ra vào bến cảng thì sẽ nhận ra ý nghĩa trân trọng hai cây phong của nhân vật “tôi” qua sự so sánh ấy. Nó như cây đa đầu làng đối với người Việt Nam khi sống ở nơi xa có dịp trô về làng cũ.

Cảm nhận về hai cây phong càng lúc càng sâu sắc hơn là ở lời tâm sự “cứ mỗi lần về quê, khi xuống xe lửa đi qua thảo nguyên về làng, tôi đều có bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc ấy”. Tại sao việc đưa mắt tìm hai cây phong được nhân vật “tôi” coi là “bổn phận đầu tiên” mà không là một việc khác? Có phải là vì chúng giữ vị trí dẫn đường, vì những ấn tượng thời thơ ấu, hay vì chúng đẹp qua cái nhìn của nhân vật “tôi” nay đã là họa sĩ? Hình như ngoài những điều ấy, hai cây phong còn ẩn chứa điều bí ẩn nào đó cuốn hút tâm hồn nhân vật “tôi”, khiến nhân vật “tôi” cảm nhận hai cây phong sinh đôi ấy khác hẳn với các loại cây khác, “chứng có tiếng nói riêng và hẳn phải có một tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu”.

Từ cảm nhận ấy, nhân vật tôi tập trung miêu tả tiếng lá reo của hai cây phong như hơi thỏ, tiếng nói cười của hai con người. Ai-ma-tốp không chỉ vận dụng thi giác để thấy cây nghiêng ngả, “lay động lá cành vận dụng thính xác để nghe được “tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau” mà còn vận dụng cả trí tưỏng tượng phong phú của người họa sĩ khi miêu tả hai cây phong sinh đôi giữa đồi cao lộng gió. Nhà văn đã sử dụng tối đa nghệ thuật so sánh để mô tả tiếng phong reo theo tâm trí tưởng tượng của nhân vật, lúc thì “tưởng chừng như một làn sóng thảy triều ”, lúc thì “lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào ”, lúc thì “reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực”. Rõ ràng với lối miêu tả hình ảnh thực xen lẫn với tâm trí tưồng tượng ây, nhà văn đã mang đến cho người đọc hai cây phong mang tâm hồn bí ẩn. Với nhân vật “tôi”, dù hiểu được điều bí ẩn của hai cây phong, nhưng đó chỉ là hiện tượng vật lý. Còn về tình cảm thì “Tuổi trẻ của tồi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chứng như một mảnh võ cửa chiếc gương thần xanh..”. Nó đã là điều thuộc về tâm linh, sự gắn bố tự nhiên với hai cây phong từ thuở còn thơ đại mà đến tận ngày nay nhân vật “tôi” vẫn “Mong sao chóng về với làng, chóng lên đồi mà đến với hai cây phong”.

Xem thêm bài viết hay:  Viết đoạn văn miêu tả cảm xúc của nhân vật cáo sau khi từ biệt hoàng tử bé (4 mẫu)

Một mạch văn xuyên suốt, nhân vật “tôi” đã nhân danh mình để nói lên tình cảm gắn bó với ngôi làng Ku-ku-rêu, nhất là với hai cây phong sinh đôi. Ấy là mạch văn miêu tả những gì thuộc về cá nhân. Nhưng khi nhắc đến “tuổi trẻ cửa tôi đã để lại nơi ấy” thì danh xưng và mạch văn thay đổi bằng lối văn hồi ức, miêu tả lại hoạt động của “bọn con trai chúng tôi trong đó có nhân vật “tôi”. Hình ảnh quá khứ, nhất là lần cùng với bạn chạy ào lên chỗ hai cây phong để phá tổ chim hiện về như cảnh phim quay chậm. Những đoạn văn hồi ức đã làm sống lại thời tuổi thơ trong sáng của nhân vật tôi cùng bạn bè với hai cây phong. Người và cây thật gần gũi, thật gắn bó trong những câu văn của Ai-ma-tốp. Người thì “reo hò, huýt còi ầm ĩ chạy lên đồi còn cây thì “nghiêng ngả đung đưa như muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền ”.

Hai cây phong như hai con người có tâm hồn hòa nhịp với tâm hồn tuổi trẻ. Và còn hơn thế là chắp cánh cho tuổi trẻ, khi ở trên những cành cao nhất “bỗng như có một phép thần thông nào vụt mở ra trước mắt chúng tôi cả một thế gỉớỉ đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng“. Nhờ hai cây phong mà bọn trẻ “chúng tôi” mở rộng tầm nhìn. Từ khoảng hẹp quanh đồi, quanh làng, nay ở trên cành cao nhìn quanh thấy trời đất rộng bao la mà kể từ lúc sinh ra cho đến giây phút trước khi trèo lên cành cây phong cao ngất “chứng tôi“ chưa hề thấy. “Chúng tôi cố giương hết tầm mắt nhìn vào nơi xa thẳm biêng biếc của thảo nguyên và nhìn thấy khổng biết bao nhiêu, bao nhiêu là vùng đất mà trước đây chúng tôi chưa từng biết đến, thấy những con sông mà trước đây chúng tôi chưa từng nghe nói”. Và điều quan trọng khác là những gì được nhìn thây ở chung quanh ấy đã gợi cho “chúng tôi” suy nghĩ về giới hạn của núi sông, cây cỏ, bầu trời và những đám mây…; lắng nghe tiếng gió ảo huyền và tiếng lá cây đáp lại lời gió. Mạch văn ghi lại hồi ức chấm dứt.

Truyện trở lại với mạch kể của nhân vật “tôi” nhân danh bản thân miêu tả hai cây phong và nêu cảm xúc, suy nghĩ một cách gần gũi, sâu xa về chung, kể cả điều mà giờ đây “tôi” mới nêu ra: “Ai là người đã trồng hai cây phong trên đồi này? Người vô danh ấy đã ước mơ gì, […] đã ấp ủ những niềm hi vọng gì khi vun xới chúng nơi đây, trên đỉnh đồi cao này?”. Và một câu hỏi khác: “Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi họ gọi là “Trường Đuy-sen”.” Câu hỏi này đã hàm chứa câu trả lời kín đáo cho câu hỏi trên.

Đoạn truyện là lời kể và hồi ức về một quãng đời của nhân vật “tôi”. Qua ngòi bút của T.Ai-ma-tôp, hình ảnh người thầy đầu tiên không tách rời khỏi bao thế hệ học trò mà hai cây phong là biểu tượng của sự gần gũi ấy. Với bút pháp tượng trưng, lời văn trữ tình giàu chất thơ, hai cây phong được diễn tả như hai con người ẩn chứa cái đẹp, cái thiện, hy sinh luôn luôn bị thử thách, và cuối cùng đã chiến thắng, mà cụ thể là nhân vật “tôi”, một học trò cũ đã thành danh dù đang ở nơi xa nhưng luôn tìm dịp quay về làng cũ để đến với hai cây phong “nghe mãi tiếng lá reo cho đến khỉ say sưa ngây ngất”. Ai-ma-tốp được mọi người biết đến là nhờ cách viết khéo léo lấy.

Phân tích đoạn trích Hai cây phong của Ai-ma-tốp – mẫu 3

Chúng ta được biết truyện vừa Nỵười thầy đầu tiên là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà vãn nước Cộng hoà Cư-rơ-gư-xtan Ai-ma-tốp. Tác phẩm viết về tình thầy trò cao đẹp, từ đó ca ngợi sức sống dẻo dai, sự vươn lên mạnh mẽ của một lớp người tuổi trẻ trên đất nước Cư-rơ-gư-xtan những năm hai mươi của thế kỉ trước. Tiêu biểu cho lớp người ấy là thầy giáo Đuy-sen và cô học trò An-tư-nai. Trong truyện có chi tiết đặc sắc: Một hôm thầy Đuy-sen mang về trường hai cây phong và nói với An-tư-nai: “Hai cây phong này, thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt…”.

Qua thời gian học tập, rèn luyện và đấu tranh, cô bé An-tư-nai nghèo khổ đã trở thành một Viện sĩ khoa học tài giỏi. Cũng qua thời gian và mưa nắng, hai cây phong cũng lớn dần lên thành hai cây cổ thụ đứng sừng sững ở đầu làng, đem lại cho dân làng, nhất là cho các em nhỏ, thế hộ sau của thầy trò Đuy-sen biết bao niềm vui trong sáng. Đoạn trích Hai cây phong, thuộc phần đầu tiên của thiên truyện Người thầy đầu tiên đưa người đọc vào thời gian hiện tại sau rất nhiều năm thầy Đuy-sen dạy và cô bé An-tư-nai học tập. Tuy không được biết những nội dung, ý nghĩa cụ thể của tác phẩm, nhưng đọc đoạn trích mà sách Ngữ vân 8 giới thiệu, chúng ta vẫn cảm nhận được một phần tài năng sáng tạo của nhà văn, vẻ đẹp đặc sắc của hình ảnh hai cây phong, nhất là vẻ đẹp tâm hồn của lớp trẻ, sự gắn bó giữa cãy và người thuộc thế hộ nối tiếp bước đi của Người thầy đầu tiên. “Ngọn cây và tầm nhìn”, phải chăng đấy là ý nghĩa bao trùm mà người đọc có thể cảm nhận được từ đoạn trích này.

Đoạn văn được viết bàng ngòi bút miêu tả xen lẫn tự sự, thời gian hiện tại xen lẫn hồi tưởng quá khứ, nhân vật “chúng tôi” song song, đổng hiện với nhân vật “tôi” cùng tâm sự, chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc với người đọc. Do đó, ngổn từ, hình ảnh cứ chấp chới bay lượn, lúc ẩn, lúc hiện, lúc thực, lúc mờ rất thú vị. Hình ảnh hai cây phong hiện lên, những trò vui tuổi trẻ được kể lại, những cảm xúc dạt dào, những suy nghĩ lắng sâu,… từng dòng, từng dòng ngân lên.

Những vẻ đẹp của hai cây phong: Từ mở đầu đến “… mọi làn gió nhẹ thoảng qua”. Hoá thân vào nhân vật “tôi”, người hoạ sĩ, nhà văn vẽ lại hình ảnh hai cây phong bằng từ ngữ, câu vãn đầy chất tạo hình và giàu chất nhạc. Mở đầu là hình ảnh hai cây phong lớn, hiên ngang đứng giữa ngọn đồi đầu làng, từ xa nhìn lại ngỡ như thấy “những ngọn hải đăng đặt trên núi”. Ngọn hải đăng đứng bên bờ biển toả ánh sáng soi đường, dẫn dắt những con tàu cập bến. Còn hai cây phong kia cũng đã từng làm nhiệm vụ chi lối dẫn đường cho biết bao nhiêu người con của làng Kur-ku-rêu hướng về, tìm về quê hương. Nghệ thuật so sánh của nhà văn thật có ý nghĩa. Vì thế cứ mỗi lần về quê, tôi – người hoạ sĩ, người kể chuyện – xác định “bổn phạn đầu tiên là từ xa dưa mát tìm hai cây phong thân thuộc”.

Xem thêm bài viết hay:  Viết đoạn văn về một hình ảnh hay hành động của Thánh Gióng đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất (4 mẫu)

Và cứ mỗi lần như thế, tôi lại mong sao chóng về tới làng, chóng được lên đồi đến với cây, “dứng dưới gốc cây để nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngây ngất”. Vậy là, bên cạnh hình ánh hai cây phong đứng sừng sững, hiên ngang trên đồi cao như một biểu tượng của hồn vía quê hương là hình ảnh một con người yêu quê hương da diết. Nhờ tình yêu ấy mà tôi, nhún vật kể chuyện nghe được “tiếng nói riêng”, “những lời ca êm dịu” của hai cây phong, hai sinh thể sống động như con người. Tác giả đã hoá thân vào nhân vật để kể chuyện, để miêu tả với hàng loạt những liên tưởng, so sánh, nhân hoá âm thanh, tiếng nói của cây phong. Dù ban ngày hay ban đêm, “chúng vẫn nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào…”, có lúc “như một làn sóng thuỷ triều dâng lên vồ vào bãi cát…, có lúc “thì thầm… nồng thắm như một đốm lửa vô hình”, có lúc “khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào…”.

Và khi mây đen kéo đến thì hai cây phong “nghiêng ngả tấm thàn dẻo dai và reó vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực”. Phải mang một tâm hồn nghệ sĩ hài hoà hai tố chất – tố chất hội hoạ và tố chất âm nhạc, nhân vật tôi * mới có thể vẽ lại được những đường nét, sắc màu, nghe lại được những âm thanh trầm bổng, thấm đượm hơi lửa nồng ấm, đắm say của những vẻ đẹp mà hai cây phong đã phô ra, đã truyền tới. Rõ ràng, qua cảm nhận cùa người nghệ sĩ, hai cây phong đã hiện lên với hình hài cao lớn, hiên ngang, với đường nét lá cành uyển chuyển, nhất là với tiếng reo đa thanh… đẹp kì diệu. Đó là hình ảnh của quê hương, cũng là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ mà dẻo dai, kiêu hùng bất khuất mà dịu dàng thân thương của những con người nơi đây. Khi người hoạ sĩ đứng dưới gốc cây “nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngày ngất”, tình yêu quệ hương trong tâm hồn anh – nhà vãn Ai-ma-tốp, ngất ngây hoà quyện cùng đất trời, cây lá, con người quê hương. Đoạn văn xuôi có nhiều hình ảnh, từ ngữ tượng hình, tượng thanh sinh động, truyền cảm hấp dẫn như một bài thơ, một khúc hát vậy.

Vẻ đẹp tâm hồn tuổi trẻ: Chuyển xuống đoạn sau (từ câu “Những việc khám phá…” đến hết bài), ngôn ngữ lời văn cũng chuyển đổi, từ hiện tại tới cách cảm nhận của một người dã trưởng thành trở lại với những kỉ niệm tuổi thơ đầy mơ mộng. Ngỡ như chính Ai-ma-tốp đang bé lại để sống lại một kỉ niêm tuyệt vời. Vào một ngày nào dó của nãm học cuối cùng trước khi nghỉ hè, “tôi” -người kể chuyện – lên cao, cao nữa, cao mãi, có lẽ cao tới gần ngọn cây. “Và chúng tồi, lũ nhóc con đi chân đất… trèo lên cao làm chấn động vương quốc loài chim”. Một lời kể, một nhận xét thật ngây thơ mà thú vị ! Các cậu bé giống những chú chim non đã chiếm lĩnh vương quốc này, vòm cây xanh, bầu trời rộng. Nhờ đó, từ độ cao “ngang tầm cánh chim bay”, các cậu bé đã nhìn thấy cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng. Đến những dòng này, nhân vật “tôi” mờ đi, để “chúng tôi” hiện lên choán lấy tất cả.

Tại sao như thế ? Phải chăng nhà văn muốn thay đổi điểm nhìn, hoá thân thực sự vào thế giới tuổi thơ để cảm nhận những vẻ đẹp thơ mộng của quê hương mình. Làng Ku-ku-rêu trên đất nước Cư-rơ-gư-xtan đã hiện lên dưới những đôi mắt trẻ thơ như thế nào ? Này dây, “đất rộng bao la làm chúng tôi sửng sốt”. Này đây, “chuồng ngựa của nông trang mà chúng tôi vẫn coi là toà nhà rộng lớn nhất trên thế gian… chỉ như căn nhà xép bình thường”. Phía xa là dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong làn sương mờ đục. Và xa hơn nữa là những con sông, “những dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh…”. Thú vị biết bao, nhờ vị trí trên caọ của hai cây phong, các chú bé đã “thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” đúng như ý thơ của Hồ Chí Minh trong một bài thơ nhiều người biết đến. Và cũng từ vị trí ngọn cây như thế, các cậu bé được sống trong những phút giây ngây ngất, hạnh phúc. “Chúng tôi nép minh ngồi trên các cành cây suy nghĩ… Chúng tôi ngồi nép trên các cành cây, lắng nghe…”.

Quả thật, trong những phút giây ấy, ở những đỉnh cao ấy, tầm nhìn của tuổi thơ được mở rộng, chiều suy nghĩ được khơi sâu, cả tâm hồn và trí tuệ như đang cùng cất cánh đê cảm nhận biết bao vẻ đẹp rộng dài, lắng nghe biết bao âm thanh huyền ảo, suy nghĩ và mộng mơ, khát vọng biết bao điều thiêng liêng, kì thú. Nói khác đi, nhờ hai cây phong lớn cao, vững vàng nâng đỡ, dìu dắt lên tận đỉnh ngọn, những chú bé làng Ku-ku-rêu ấy mới được mở rộng tầm nhìn, vươn tới bao nhiêu điều bổ ích. Trong dó, có lẽ điều bổ ích nhất là giàu có thêm tâm hồn và trí tuệ. Chí bằng một kí niệm tuổi thơ cụ thể của một nhân vật cụ thể, nhà văn đã đánh thức trong người đọc chúng ta biết bao kỉ niệm êm đềm, thân thương về quc hương, về đất nước, khi còn ấu thơ cũng như lúc đã về già. Đến phần cuối đoạn văn, nhân vật kể chuyện lại thêm một lần chuyển giọng.

Từ “chúng tôi”, nhân vật xưng “tôi”. ”Tôi lắng nghe tiếng hai cây phong rì rào, tim đập rộn ràng vì thảng thốt… hình dung ra những miền đất xa lạ kia… Chỉ có một điều tôi chưa hổ nghĩ đến : ai là người đã trổng hai cây phong trên đồi này… Ọuả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi họ gọi là Trường Đuy-sen…”. Đây chính là những dòng văn dẫn vào câu chuyện kê về những con người kì diệu của quê hương mình. Đật ở vị trí kết thúc vãn bản Hai cây phong này, đây lại là những tâm niệm của người hoạ sĩ khi được gặp lại hai cây phong, được sống lại tuổi thơ mộng mơ, lãng mạn đe rồi luôn nhớ tới và biết ơn lớp người đi trước, mở đường và gieo trồng những hạt giống, vun xới cho cây cối, giáo dục, thức tỉnh con người lớn lên. Đó là điều tâm niệm của một tấm lòng nhân hậu, biết “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đáng yêu quý, trân trọng. Vậy là, từ sự cảm nhận những vẻ dẹp của hai cây phong, người hoạ sĩ đã kê về một kỉ niệm tuổi thơ không kém phần tươi đẹp mà giàu ý nghĩa : ngọn cây và tầm nhìn. Cây càng vươn cao bao nhiêu, càng đón được nhiều gió bấy nhiêu. Con người càng vươn cao, trướng thành bao nhiêu, tầm mắt càng mở rộng bấy nhiêu, nhưng đừng bao giờ quên cội nguồn, gốc rẻ…

Tóm lại, trong bài Hai cây phong, trích truyện Người thầy đầu tiên của nhà văn Ai-ma-tốp, hai cây phong được miêu tả hết sức sinh động qua cái nhìn và những hổi tưởng tuổi thơ đầy mơ mộng và lắng sâu của một hoạ sĩ, Từ đó, nhà vãn đánh thức nơi tâm hổn chúng ta tình yêu quê hương, lòng biết ơn các bậc tiền bối đã trồng cây vun xới những mầm xanh cây lá và giáo dục, dìu dắt thế hệ trẻ trưởng thành. Đọc và suy ngẫm về hình ảnh hai cây phong của xứ người, chúng ta không khỏi nhớ tới những cây đa, những rặng trâm bầu, những luỹ tre làng Việt Nam chúng ta. Ấy là hồn quê hương, là cội nguồn của đất nước, của dán tộc và của mỗi người chúng ta.

Xem thêm các bài Văn mẫu thuyết minh, phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 8 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

hai-cay-phong.jsp

Các loạt bài lớp 8 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *