Đề bài: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.

Hình tượng người nông dân từ lâu đã đi vào văn học dân tộc, trở thành đề tài, gây cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ. Nếu như trước cách mạng tháng 8, ta bắt gặp hình ảnh chị Dậu quanh quẩn trong đói rét qua truyện ngắn “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; hình tượng Chí Phèo tha hóa, biến chất từ ​​một người lương thiện thành một tên du côn, lưu manh, ác quỷ của làng Vũ Đại trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao… thì sau cách mạng, nhà văn Kim Lân cũng góp một hình ảnh người nông dân vào đề tài này với truyện ngắn có tựa đề: “Làng” (1948). Tuy nhiên, Kim Lân không khai thác cái nghèo, cái đói, sự tha hóa thân phận, nhân tính của họ như các nhà văn trước mà ông đi vào miêu tả sự hòa quyện giữa tình yêu làng và tình người. đất nước, tinh thần kháng chiến của nông dân. Điều đó, được Kim Lân thể hiện rất thành công qua hình tượng ông Hai, từ đó trở thành tượng đài biểu tượng cho người nông dân trong thời đại mới – thời đại của cách mạng và kháng chiến.

Trước hết, ông Hai hiện lên là một người nông dân yêu nước, yêu làng quê, luôn tự hào về quê hương, làng xóm, nơi chôn rau cắt rốn của mình. , tự hào về làng mình. Đi đến đâu ông cũng khoe với mọi người rằng làng mình giàu đẹp, làng mình có truyền thống cách mạng. Vì thế, mỗi khi nhắc đến làng, ông kể với một thái độ say mê, với khuôn mặt thay đổi, với ánh mắt háo hức, ông có thể nói với bất cứ ai về chủ đề bất tận đó. Ngay cả khi ông nói, người nghe có muốn nghe hay không, ông không quan tâm, bất kể ông có say hay không. Nhưng giờ đây, anh Hải phải rời quê, xa làng, đưa cả gia đình ly tán theo lệnh. “Anh nằm trên giường, vắt tay lên trán nghĩ ngợi. Anh lại nghĩ về làng quê, lại nghĩ đến ngày cùng anh em lao động…”, anh nhớ lại ngày cùng các bạn, anh em. vào làng, vào xóm, đào hào, đắp bờ, bận việc, bận làm, anh “không còn thời gian nghĩ đến vợ con nữa”… Và đằng sau nỗi nhớ ấy, người đọc thấy được sự gắn bó chân thành của Hải và tình yêu chân thành với xóm làng. Tình yêu ấy thật làm ta nhớ đến câu ca dao xưa:

Anh đi anh nhớ nhà

Nhớ canh rau nhớ canh đậu đắng

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nào.

Xem thêm bài viết hay:  Vấn đề dân số được thể hiện như thế nào qua “Bài toán dân số”

Và, ở ông Hai cũng vậy, những gì gắn với làng Chợ Dầu, ông đều khắc ghi, ghi nhớ vào tận đáy lòng: “Ôi chao! Già nhớ làng, nhớ làng da diết”. Và càng nhớ, anh càng muốn tìm hiểu, nghe kể về tình hình của làng. Vì vậy, hàng ngày, ở nơi tản mác, sáng nào việc đầu tiên ông làm là lên phòng thông tin nghe đọc báo, mong biết chút ít về làng quê, về cuộc kháng chiến. Cho nên khi biết mọi tin vui về cách mạng, “ruột ông cứ nhảy múa, mừng quá!”… Qua đây ta thấy được nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng của người dân. Ông Hai và anh luôn dõi theo từng bước đi của cách mạng và kháng chiến. Đó là một nét tâm lý điển hình, phổ biến và cố hữu của người nông dân đối với làng quê, khát vọng trở về làng, về với quê cha đất tổ cũng đồng nghĩa với khát vọng quê hương trong sạch. bóng nước ngoài.

Nhưng có một việc bất ngờ xảy đến với ông, ra khỏi phòng thông tin rất phấn khởi, phấn khởi trước tin vui kháng chiến, gặp những người tản cư, nghe họ nhắc đến tên làng, ông Lại lắp bắp hỏi: mong tin vui về làng, nào ngờ cả làng Chợ Dầu theo giặc. Trước tin dữ đó, ông Hải như chết lặng, “Cổ ông cụ tê hết cả, mặt mũi tê dại. Ông già lặng đi, như không thở được”. Từ niềm vui, niềm tin và hi vọng, ông Hai rơi xuống vực thẳm của nỗi buồn, đau thương và tuyệt vọng. Anh cố trấn tĩnh và cố tìm cách bỏ đi, muốn che giấu tâm trạng nhưng nỗi xấu hổ, tủi nhục, lo lắng khiến anh “cúi đầu đi”, miệng vẫn văng vẳng câu chửi “như người Việt Nam”. bán nước”.

Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, xót xa nhìn các con: “nước mắt ông già cứ ứa ra”. Những dòng độc thoại nội tâm của ông thể hiện sự day dứt, đau đớn: “Chúng nó cũng là những đứa con của làng Việt sao, chúng nó cũng bị người đời hắt hủi sao?…” Căm giận những kẻ theo giặc phản bội Tổ quốc, ông cụ nắm chặt tay. tay và rít lên: “Chúng nó bay ăn miếng cơm hay miếng gì trong miệng mà đi làm cái lũ việt gian bán nước để nhục nhã thế này”, nhưng sau đó, anh lại cảm thấy “ngỡ ngàng” vì thấy mình nói không đúng lắm. .Niềm tin và sự thất vọng giằng xé giữa ông “Ông kiểm điểm từng người” thấy họ đều là những người có tinh thần phản kháng, sống một sống chết với quân thù, không đời nào ông dám làm như vậy. một điều đáng hổ thẹn. Trong hoàn cảnh chiến tranh, tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến là một tình cảm thiêng liêng và cao quý, và phản bội là một điều ô nhục nhất. Vì vậy, từ khi nghe tin làng mình theo giặc, nó đã trở thành một nỗi ám ảnh và day dứt trong tâm trí anh, khiến anh không thể bước chân ra ngoài ngày hôm nay. Suốt ngày chỉ quanh quẩn trong cái không gian chật chội ấy mà nghe tiếng lính. “Một đám đông tụ tập anh cũng để ý, dăm bảy tiếng nói xa xa anh cũng ngại”, anh luôn cho rằng người ta đang để ý, bàn tán về “chuyện ấy”; Mỗi lần nghe tiếng Tây, tiếng cam, tiếng Việt là ông lại thu mình vào một góc nhà để im lặng… “Thôi đừng nói nữa!”. Anh ấy luôn thu mình lại, cảm thấy xấu hổ, buồn bã và dường như cũng cảm thấy tội lỗi. Anh bị bỏ rơi trong cảnh tuyệt vọng khi bà chủ nhà gọi điện đuổi gia đình anh đi vì “nghe nói có lệnh đuổi hết dân làng chợ Dầu ra, không cho ở nữa”. Ông Hai không biết đi đâu, về làng cũng không được vì về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, “về làng tức là về làm nô lệ cho Tây”. Ở ông Hai, một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt diễn ra và ông quyết định chọn con đường của mình: “Làng thật yêu làng, nếu theo Tây thì phải hận”. Lòng yêu nước đã bao trùm lên tình yêu làng. Nhưng không bỏ được tình làng nên ông Hai càng buồn và xấu hổ hơn. Trong tâm trạng dồn nén không biết làm cách nào để giải tỏa, ông Hải chỉ biết trút bầu tâm sự với đứa con nhỏ. Cuộc đối thoại giữa ông và con đã bộc lộ hết sức cảm động tình cảm gắn bó sâu nặng của ông Hai với làng, với nước và với kháng chiến. Ông nói với con như nói với chính mình, ông bất công, ông tự cho mình là đúng. Lời đối thoại vừa chứa đựng nỗi đau xót, vừa thể hiện tấm lòng thủy chung son sắc với kháng chiến, với cách mạng, với Bác Hồ.

Xem thêm bài viết hay:  Phát biểu cảm nghĩ về đoạn văn Sông nước Cà Mau hay nhất – Văn mẫu lớp 6

Có lẽ, nếu không nhận được tin đính chính, cả cuộc đời ông Hai sẽ chết dần chết mòn, chết trong đau đớn, tủi nhục về làng quê. Nhưng sau đó, chính quyền làng ông đã đính chính tin làng chợ Dầu theo giặc. Nhận được tin, ông Hai như sống lại, niềm vui ngập tràn: quần áo ông chỉnh tề, nét mặt vui tươi, rạng rỡ, miệng ngậm miếng trầu, đôi mắt đỏ hoe, ông đang lảm nhảm, anh đang lảm nhảm, mua quà cho bọn trẻ…. Đặc biệt là hành động bỏ chạy để báo tin vui cho mọi người. Niềm vui và hạnh phúc dâng trào khiến anh chàng phải khoa tay múa chân khoe. Và lạ thay, câu đầu tiên ông khoe không phải làng mình không theo giặc mà là “Nó đốt nhà tôi rồi… nó đốt hết rồi!”. Đối với người nông dân, ngôi nhà là toàn bộ tài sản mà họ đã làm việc chăm chỉ cả đời mới có được. Nhưng ông Hai không tiếc ngôi nhà của mình bởi đó là minh chứng cho việc làng ông không theo giặc và hơn hết đó là “công lao” của gia đình ông đối với kháng chiến. Điều đó, một lần nữa khẳng định rõ hơn tình yêu làng, yêu nước, trung thành với kháng chiến ở ông Hai.

Đến đây, ta thấy sự sáng tạo độc đáo của Kim Lân trong nghệ thuật xây dựng tình huống, thật gay cấn, kịch tính với những thử thách của đời sống nội tâm nhân vật, qua đó bộc lộ chiều sâu đời sống nội tâm, tư tưởng, tình cảm của nhân vật. Tác giả đã miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, rất cụ thể và giàu sức gợi qua thế giới nội tâm bằng những suy nghĩ, hành vi, ngôn ngữ. Đặc biệt, nhà văn đã miêu tả rất đúng và rất ấn tượng nỗi ám ảnh khôn nguôi trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân có sự hiểu biết sâu sắc về con người và những nét tâm lí của người nông dân Việt Nam sau lũy tre làng.

Xem thêm bài viết hay:  2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du hay nhất – Ngữ văn lớp 10

Đúng như nhà văn Ra – xun Gam – za – tốp đã từng nói: “Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người”; Nghĩa là con người có thể xa rời quê hương về không gian, địa lý nhưng trong sâu thẳm trái tim, tâm hồn mỗi người, quê hương vẫn hiện hữu. Điều đó đúng với nhân vật ông Hai, một người nông dân xa quê tha hương nhưng luôn đau đáu nỗi nhớ làng, yêu nước. Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấy được tài năng của nhà văn Kim Lân trong việc khắc họa nhân vật thật đặc sắc, thật sinh động, mang đậm yếu tố của thời đại cách mạng kháng chiến: yêu làng, yêu nước, trung thành với kháng chiến. , cho dân tộc. Ông Hai đã trở thành một tượng bài bất tử, một biểu tượng của người nông dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh lâu dài của cách mạng dân tộc.

Xem thêm các bài văn mẫu phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 9:

Mục Lục Văn Mẫu | Văn học hay 9 theo từng phần:

Giới thiệu về kênh Youtube

Các bộ đề lớp 9 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *