Đề bài: Từ xưa đến nay, cha ông ta luôn coi văn chương là vũ khí chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén. Hãy để tôi làm rõ khái niệm đó.

Nước ta có lịch sử lâu đời. Những bài thơ, phóng sự, tiểu luận, thi phẩm… của ông cha ta để lại đã cho thấy nền văn hóa, nghệ thuật Việt Nam ngày càng phong phú, giàu bản sắc.

Qua văn học dân gian, qua những kiệt tác văn học viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, chúng ta càng thấy rõ hơn ông cha ta đã coi văn chương là một vũ khí chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén.

Những câu ca dao trào phúng, truyện cười, truyện cười, vở chèo “Ngao, Sò, Ốc, Hến” đã châm biếm, chế giễu, đả kích xã trưởng, kẻ dối trá, cường hào, đạo đức giả,… ở làng quê xưa. Giáo phái phong kiến ​​cũ đã bị giáng một đòn chí mạng. Qua câu ca dao “Cha bạn đội gạo lên chùa…”, “Em là trinh nữ…”, qua truyện cười “Nam mô boong”, qua vai mẹ Đốp,… chúng ta hiểu sâu sắc. tiếng cười ấy chính là vũ khí chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén của nhân dân ta để đánh đổ mọi thần tượng ở đời!

Nhân dân ta, ông cha ta đã coi văn học là vũ khí lợi hại để dựng nước và giữ nước. Bọn xâm lược, bọn việt gian bán nước cầu vinh đã bị giáng những đòn chí mạng.

Đem quân sang xâm lược Đại Việt là bất nghĩa, các vua, tướng trong triều đã vi phạm “Thiên sách”. Những kẻ xâm lược nhất định bị trừng phạt, chịu thất bại nhục nhã:

Tại sao kẻ thù lại đến đây?

Chúng ta phải tan vỡ!

(Nam quốc sơn hà)

Hịch là lệnh xung trận, là lời kêu gọi đánh giặc khi Tổ quốc bị xâm lược. Hic là vũ khí đánh đuổi giặc ngoại xâm, sắc hơn gươm giáo, mạnh hơn cung tên. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn là lời thề quyết chiến của các vua và trăm vạn quân “tàn sát” nhà Trần: “Dẫu trăm xác phơi cỏ, nghìn xác ngựa quấn da, tôi cũng vui lòng”. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn là nguồn sức mạnh quyết chiến vô cùng mạnh mẽ, sắc bén, “làm cho người tài giỏi như Bàng Mông, họ Hậu Nghệ; nâng được đầu Hốt Tất Liệt nơi cửa ải, làm thối thịt Vân Nam Vương Cao Nhai”, để sơn thôn Đại Việt trường tồn bền vững. Chính vì thế vua Trần Thái Tông đã tự hào nói: “Văn phải có tư thế đánh đuổi vạn quân”.

Xem thêm bài viết hay:  Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng (dàn ý – 10 mẫu)

Đối với Nguyễn Trãi, văn thơ không chỉ để ngâm thơ mà còn là vũ khí sắc bén vạch trần tội ác của giặc Minh “dối trời dối dân, ngàn mưu hại dân. Văn học là để làm nổi bật sức mạnh chính nghĩa của nhân dân ta:

“Hành động nhân nghĩa bao gồm hòa bình của người dân,

Quân phạt trước lo bạo động”.

(Hồng ngô đại cáo)

Văn chương là chuyện “ngồi bút” góp phần bảo vệ nước Nam, đánh tan quân xâm lược phương Bắc, lưu danh thơm sử xanh muôn đời:

“Viên Nam mãi mãi mất kiểm soát,

Thế lực Bắc Dã vẫn là nơi đầu tiên”.

(Bảo vệ người gác-56)

Đất nước ta bốn nghìn năm lịch sử, đã trải qua bao gian lao nguy khốn, từng bị ngoại bang đô hộ, nhưng nòi giống ta vẫn phát triển, đất nước ta vẫn giàu mạnh, văn hiến còn cường thịnh. của dân tộc ta ngày càng rực rỡ. Qua những áng văn, vần thơ của tổ tiên để lại, chúng ta càng thấy rõ hơn nền văn học Việt Nam vừa đậm đà tính dân tộc, vừa mang hồn dân tộc, đã đề cao tinh thần yêu nước. Thật vậy, thơ ca là vũ khí chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén để khơi dậy tinh thần dân tộc.

Từ nửa sau thế kỷ 19, dân tộc ta đã trải qua những năm dài tăm tối vì nạn xâm lược của loài “Bạch quỷ”, bởi họa bán nước cầu vinh của bọn Việt gian. Phan Văn Trị vạch trần bộ mặt đê tiện của Tôn Thọ Tường, tay sai của giặc Lang Sa. Trong bài “Thân Đạo”, Nguyễn Đình Chiểu đã chỉ mặt vạch mặt những tên “bọn bịp bợm” với tất cả sự căm ghét ghê tởm:

“Bạn mang bao nhiêu con tàu không xiềng xích,

Bọn này đâm bút gian ác quá”.

“Văn tế Trương Định”, “Văn tế nghĩa sĩ trận vong” “Lục tỉnh”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là vũ khí chiến đấu, là bài ca yêu nước chống ngoại xâm, là “bài ca anh hùng liệt sĩ”. thân phận nhưng Người vẫn tự hào: sống đánh giặc, thác nước cũng đánh giặc… suốt đời thề phục thù…” (Phạm Văn Đồng).

Xem thêm bài viết hay:  Tả một cây non mới trồng

Đầu thế kỷ XX, các nhà chí sĩ đã dùng thơ, văn để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Thơ văn yêu nước là vũ khí đấu tranh mạnh mẽ, sắc bén cho độc lập, tự do. Trong “Văn hiến tân thư”, nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục đã khẳng định: “Thể văn… thơ văn đều nhằm đề cao lòng yêu nước thương nòi”. Phan Châu Trinh, người chí sĩ yêu nước tiên phong giương cao ngọn cờ khai dân, đã khinh bỉ gọi bọn quan lại tay sai của thực dân Pháp là “bọn cướp có giấy phép!”; Anh bày tỏ: “Bút lưỡi muốn rẽ nước lũ”. Trong bài “Văn tế Phan Châu Trinh”. Phan Bội Châu ca ngợi và khẳng định:

“Ba inch lưỡi nhưng một thanh kiếm và một khẩu súng,

Chính phủ cũng gai góc;

Một chiếc lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ

Làm cho đèn sáng hơn.”

Khi cả dân tộc chìm trong ách nô lệ, những người thanh niên phải hy sinh tính mạng để cứu dân, cứu nước. Lời kêu gọi của Phan Bội Châu thật tha thiết, có tác dụng kêu gọi, thức tỉnh mọi tâm hồn trẻ Việt Nam:

“Ai có thiện chí từ nay cố gắng lên

Cởi bỏ vỏ bọc cũ và trau dồi tinh thần.

Không muốn chơi, không muốn mặc, không muốn ăn,

Gang gan dời núi,

Máu nóng rửa sạch vết nhơ nô lệ!”

(Bài ca Tết thanh niên)

Trong bài “Làm thơ”, Sóng Hồng đã nói về sức mạnh của văn chương và trách nhiệm của nhà thơ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc:

“Dùng bút làm trạm chuyển đổi chế độ

Mỗi câu: Bom đạn hủy diệt sức mạnh”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh lấy văn, thơ làm vũ khí chiến đấu, phục vụ sự nghiệp cách mạng cao cả. Người viết câu “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Trong Nhật ký trong tù, Người chỉ rõ thơ phải có tính chiến đấu, nhà thơ phải có tinh thần chiến đấu:

Xem thêm bài viết hay:  Cảm nhận về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió hay nhất (dàn ý – 6 mẫu) – Ngữ văn lớp 8

Bây giờ trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”

(“Cảm nhận khi đọc – “Thiên Gia Thị”)

“Tuyên ngôn độc lập”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh là những lời Non Nước cao cả, thiêng liêng. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” là tiếng gọi của núi sông, lời thề chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Hơn bao giờ hết, thơ ca Hồ Chí Minh là vũ khí chiến đấu mạnh mẽ, sắc bén, là vũ khí đánh giặc, bảo vệ quê hương.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, “Mặt trận sắt lửa hun đúc văn nghệ ta mới” (Nguyễn Đình Thi). Hơn bao giờ hết, chúng tôi thấm thía lời Bác Hồ dạy: “Văn hóa, nghệ thuật là một mặt trận, các đồng chí là chiến sĩ trên mặt trận đó”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Giấy bút là vũ khí sắc bén của họ”.

Qua nền văn học nước ta, ông cha ta đã chỉ ra tác dụng to lớn của văn học, không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng tính cách mà văn học còn là vũ khí chiến đấu mạnh mẽ, sắc bén. trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là bài học sâu sắc cho học sinh chúng ta, khi học văn và làm văn.

Đề cao sứ mệnh của nhà văn, nhà thơ, khẳng định ý nghĩa, giá trị to lớn của thơ ca, ông cha ta coi trọng tính tư tưởng, tính chiến đấu của văn chương, đề cao vai trò, vị trí của các nhà thơ. cầm bút trên mặt trận văn hóa tư tưởng.

Trong đấu tranh chống các hiện tượng xấu xa, tiêu cực hiện nay, xây dựng con người mới, lối sống, văn hóa mới thành vũ khí chiến đấu mạnh mẽ, sắc bén. Đó là mong ước của người dân, của toàn xã hội.

Các bộ đề lớp 12 khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *